Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Kể cho bạn nghe về thương hiệu Việt dẫn đầu thị trường thực phẩm

Lĩnh vực thực phẩm và đồ uống của Việt Nam được coi là thị trường đầy tiềm năng khi thu nhập bình quân ngày càng cải thiện. Xếp hạng của Nielsen cho thấy Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á trong lĩnh vực hàng tiêu dùng năm 2012 với tốc độ 23%, vượt xa cả Ấn Độ (18%) và Trung Quốc (13%).
Trong khi lĩnh vực sức khỏe và chăm sóc sắc đẹp, đồ uống, các thương hiệu quốc tế của các tập đoàn đa quốc gia đang làm mưa làm gió trên thị trường, thì lĩnh vực thực phẩm, thương hiệu Việt đang thiết lập được chỗ đứng vững chắc.
Trong top 5 thương hiệu hàng tiêu dùng nhanh được chọn mua nhiều nhất, chỉ có hai thương hiệu ngoại lọt vào danh sách. Cả 3 thương hiệu còn lại đều thuộc về doanh nghiệp trong nước - Ảnh: Lê Toàn
Báo cáo xếp hạng mức độ phổ biến thương hiệu do Kantar Worldpanel - công ty hàng đầu thế giới về nghiên cứu thị trường dựa trên chương trình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng - công bố đầu tháng 5 này cho thấy ở những lĩnh vực tiêu dùng trọng yếu, thương hiệu sản phẩm của các nhà sản xuất trong nước đã đủ sức cạnh tranh với các thương hiệu quốc tế.
Đặc biệt trong lần đầu tiên khảo sát dành cho các thương hiệu ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) được người tiêu dùng chọn mua nhiều nhất và thường xuyên nhất, hai thương hiệu Việt là Vinamilk và Chin-su đứng ở ngôi đầu.
“Phi thực phẩm”: thế thượng phong của các thương hiệu quốc tế
Trong 4 lĩnh vực được điều tra, sự lấn át của các thương hiệu quốc tế thể hiện rất rõ trong các lĩnh vực sức khỏe và chăm sóc sắc đẹp, chăm sóc gia đình và đồ uống.
Một ví dụ là Unilever - nhà sản xuất lớn tầm quốc tế - thống lĩnh các thương hiệu hàng tiêu dùng phổ biến trong lĩnh vực sức khỏe và chăm sóc sắc đẹp. Có tới 3/5 thương hiệu được chọn mua nhiều nhất trong lĩnh vực này thuộc về Unilever, bao gồm thương hiệu P/S, Clear và Lifebouy.
Khảo sát đối với việc tiêu dùng trong nhà ở 4 thành thị lớn là Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, cho thấy sản phẩm mang thương hiệu P/S (kem đánh răng, bàn chải, nước súc miệng) đến được với 80% hộ gia đình Việt Nam với tần suất mua trung bình là 5 lần mỗi năm.
Không có sản phẩm mang thương hiệu Việt nào lọt được vào top 5 trong lĩnh vực này. Các vị trí còn lại thuộc về thương hiệu Kotex của Kimberly Clark và Colgate của Colgate-Palmolive.
Thế thượng phong của các thương hiệu quốc tế trong các lĩnh vực phi thực phẩm là điều không có gì bất ngờ. Các tập đoàn đa quốc gia với nhiều thương hiệu đã được xác lập vị trí trên thị trường thế giới có được điểm xuất phát tốt hơn các thương hiệu trong nước.
Trong lĩnh vực sản phẩm chăm sóc gia đình, Unilever cũng thống trị với 3/5 sản phẩm được biết đến nhiều nhất, gồm bột giặt Omo, nước rửa chén Sunlight và nước xả vải Comfort.
Trong lĩnh vực đồ uống, một bất ngờ khá thú vị là thương hiệu bia 333 của Sabeco đứng vị trí thứ 3, trên cả thương hiệu Coca-Cola và C2, nhưng sau Nescafe của Nestle và Sting của Pepsico. Một lý giải cho vị trí khá thấp của Coca-Cola là sản phẩm này không thường xuyên được mua tiêu dùng trong nhà, mặc dù vẫn sở hữu lượng khách hàng lớn.
Thế thượng phong của các thương hiệu quốc tế trong các lĩnh vực phi thực phẩm là điều không có gì bất ngờ. Các tập đoàn đa quốc gia với nhiều thương hiệu đã được xác lập vị trí trên thị trường thế giới có được điểm xuất phát tốt hơn các thương hiệu trong nước.
Nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm phi thực phẩm nhìn chung là giống nhau và ưu tiên chất lượng cũng như uy tín thương hiệu đã được khẳng định qua thời gian.
Đặc biệt, lợi thế về chiến lược quảng bá sản phẩm của các tập đoàn quốc tế dễ dàng làm tăng khả năng nhận diện thương hiệu trong người tiêu dùng, giành ưu thế trong các kênh phân phối.
Thị trường thực phẩm và ưu thế của tính địa phương
Khảo sát trong lĩnh vực thực phẩm thì mức độ phổ biến của các thương hiệu nội địa lại hoàn toàn lấn át các thương hiệu ngoại.
Trong top 5 thương hiệu hàng tiêu dùng nhanh được chọn mua nhiều nhất, chỉ có hai thương hiệu ngoại lọt vào danh sách là Hảo Hảo của Vina Acecook đứng thứ 3, Dutch Lady của FrieslandCampina đứng thứ 4.
Mặc dù Vina Acecook chuyển thành công ty 100% vốn Nhật Bản từ năm 2004, nhưng thương hiệu Hảo Hảo đã quen thuộc với người tiêu dùng trong nước từ năm 2000.
Cả 3 thương hiệu còn lại đều thuộc về doanh nghiệp trong nước. Dẫn đầu là Vinamilk, đứng thứ hai là Chinsu, thương hiệu Tường An đứng vị trí thứ 5.
Tính truyền thống của các thương hiệu nội địa trong lĩnh vực thực phẩm mang lại lợi thế rất lớn, bên cạnh khả năng linh hoạt, nhạy bén và hợp khẩu vị của người tiêu dùng trong nước.
Thương hiệu Vinamilk là một ví dụ. Bề dày lịch sử của công ty này cũng như lợi thế về thị trường trong một thời gian dài đã tạo nên dấu ấn không thể thiếu trong tiêu dùng nội địa.
Mặc dù thị trường sữa cạnh tranh gay gắt với rất nhiều thương hiệu khác nhau nhưng Vinamilk vẫn có chỗ đứng vững chắc. Sản phẩm của Vinamilk có mặt trong hầu như mọi gia đình thành thị Việt Nam, dù sản phẩm sữa bột phải chia sẻ thị trường cho hàng chục thương hiệu sữa ngoại nhập. Sản phẩm sữa tươi, sữa chua và nhiều sản phẩm khác của Vinamilk vẫn thống lĩnh thị trường.
Khảo sát của Kantar Worldpanel cho thấy tỉ lệ hộ mua các sản phẩm của Vinamilk chiếm tới 94% tổng số hộ được khảo sát với tần suất mua trung bình 27 lần mỗi năm, tương đương với việc thương hiệu này được người tiêu dùng chọn mua tổng cộng 57 triệu lần trong một năm.
Lĩnh vực thực phẩm và đồ uống của Việt Nam được coi là thị trường đầy tiềm năng khi thu nhập bình quân ngày càng cải thiện. Xếp hạng của Nielsen cho thấy Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á trong lĩnh vực hàng tiêu dùng năm 2012 với tốc độ 23%, vượt xa cả Ấn Độ (18%) và Trung Quốc (13%).
Mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực này rất cao nên lợi thế thuộc về các doanh nghiệp lớn. Chẳng hạn trong thị trường các sản phẩm từ sữa, khá nhiều doanh nghiệp trong nước cũng có thương hiệu nhưng mức độ phổ biến thương hiệu đều kém Vinamilk.
Thương hiệu Chin-su của Masan Consumer mặc dù gắn liền với khá nhiều sản phẩm khác nhau như nước mắm, nước tương, tương ớt, nhưng được người tiêu dùng biết đến nhiều nhất qua sản phẩm nước mắm - món ăn và gia vị không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người Việt.
Riêng trong thị trường nước mắm, sản phẩm đặc trưng này được góp mặt từ rất nhiều nhà sản xuất địa phương nhưng rất ít thương hiệu có được mức độ nhận biết mang tính toàn quốc. Nhiều sản phẩm mang đặc trưng làng nghề hoặc đặc sản địa phương hơn là sản phẩm tiêu dùng phổ biến.
Báo cáo của Kantar Worldpanel cho biết sản phẩm Chin-su đã hầu như có mặt ở mọi gia đình người Việt (chiếm 93% trong tổng số hộ) với tuần suất mua trung bình 14 lần một năm, đồng nghĩa với việc thương hiệu này được người tiêu dùng chọn mua tổng cộng 29,7 triệu lần trong một năm cho tiêu dùng trong nhà.
Việc nắm bắt được xu thế tiêu dùng hiện đại giúp Chin-su nhanh chóng có được mức độ phổ biến thương hiệu trong một thị trường bị xé lẻ bởi rất nhiều sản phẩm từ các nhà sản xuất nhỏ. Thậm chí, thương hiệu Chin-su còn được nhận biết rộng rãi hơn nhiều so với thương hiệu của nhà sản xuất.
Thói quen tiêu dùng thay đổi có thể thấy rất rõ, từ việc sử dụng các sản phẩm nước mắm truyền thống ủ thùng, chiết chai bán lẻ không nhãn mác hay các loại nước mắm cần pha chế gia vị phù hợp nhu cầu, sang các loại sản phẩm đóng chai hoàn chỉnh, tiện dụng, tiêu dùng nhanh, có thương hiệu. Nhu cầu tiêu dùng hiện đại cũng chịu ảnh hưởng nhiều hơn của yếu tố giá cả, an toàn vệ sinh thực phẩm và hoạt động truyền thông.
Những yếu tố này đã và đang làm thay đổi diện mạo của thị trường, gây sức ép lên các doanh nghiệp sản xuất truyền thống, nhưng cũng tạo đà cho các doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính, khả năng thích ứng nhanh.

Chia sẻ câu chuyện mượn danh "sao" để bán hàng

Những trang phục, phụ kiện của nhiều hãng thời trang sau khi được các ngôi sao mặc và tham dự các sự kiện lập tức được gắn mác tên tuổi của họ. Các sao được gắn thương hiệu như Hồ Ngọc Hà, Tăng Thanh Hà, Ngọc Trinh, Thanh Hằng... là những người mẫu, diễn viên có gout thời trang riêng, thường xuyên xuất hiện nổi bật trước công chúng.
Những sản phẩm mang tên "quần Hồ Ngọc Hà", "váy Thanh Hằng", "jumpsuit Ngọc Trinh"... đang giúp không ít cửa hiệu thời trang kiếm bộn từ những khách hàng hiếu kỳ.
Mai Duyên, kinh doanh thời trang trên phố Kim Mã cho hay liên tục nhận được những câu hỏi từ khách hàng như "đã về thêm quần Hồ Ngọc Hà chưa em?", "jumpsuit Ngọc Trinh còn size nhỏ không?"...
Những cửa hàng may cũng phải thường xuyên cập nhật mẫu mã, phong cách thời trang của "sao" để phục vụ khách hàng của mình.
Duyên cho biết, những mẫu này bán rất chạy. Tuy trời nắng to nhưng chỉ cần thông báo có hàng là khách lập tức có mặt vì sợ "cháy hàng".. Nhiều khách không qua cửa hàng được, còn "nhiệt tình" nhờ chồng qua lấy cho chắc.
"Một số khách còn lên diễn đàn để tìm mua 'áo sao', dù là áo cũ cũng được vì những chiếc 'hot' đều được mua rất nhanh", chủ cửa hàng cho hay.
Những trang phục, phụ kiện của nhiều hãng thời trang sau khi được các ngôi sao mặc và tham dự các sự kiện lập tức được gắn mác tên tuổi của họ. Các sao được gắn thương hiệu như Hồ Ngọc Hà, Tăng Thanh Hà, Ngọc Trinh, Thanh Hằng... là những người mẫu, diễn viên có gout thời trang riêng, thường xuyên xuất hiện nổi bật trước công chúng.
Hai chiếc áo cùng kiểu dáng, chất liệu, chỉ khác nhau màu sắc nhưng chiếc áo từng được ca sĩ nọ mặc sẽ được bán chạy hơn hẳn. Thùy, một khách hàng giải thích "như vậy người ta mới biết mình mặc áo xịn".
Không chỉ có váy vóc, quần áo dự tiệc, những bộ quần áo được những diễn viên, ca sĩ này mặc khi tập thể dục, trang phục ở nhà cũng được các shop buôn về và quảng cáo kèm "mác sao". Kiểu quảng cáo hấp dẫn này được cả những shop online và các cửa hàng sử dụng.
Những chiếc áo giống "sao" này có nhiều loại giá, từ 800.000 đến 2 triệu đồng, thậm chí cao hơn nữa. Tuy nhiên, nhiều khách hàng chọn mua hàng "fake" với giá rẻ hơn 50% - 80% giá trị. Ngoài ra, người mua còn có thể chọn vải để may giống kiểu những chiếc áo loại này.
Các ngôi sao được nhiều cửa hàng găn thương hiệu "kèm" trang phục vì ăn mặc nổi bật và thường xuất hiện trước công chúng
Ngay tại các sạp vải trên chợ Hôm (Hà Nội), các chị chủ buôn cũng quảng cáo nhiệt tình về những mẫu vải ren: "Họa tiết này, Ngọc Trinh vừa mặc tuần trước đấy", hay "hoa sặc sỡ là mốt năm nay, Hồ Ngọc Hà cũng mặc rất nhiều kiểu này mà".
Những chủ buôn này còn nhớ chính xác mẫu áo nào Hồ Ngọc Hà mặc khi làm giám khảo chương trình The Voice, chiếc nào mặc trong clip cùng với cha...
Các thợ may cũng thường xuyên phải cập nhật mẫu mã, thời trang của các sao vì nhiều người không thể mua những chiếc áo tiền triệu, họ tìm vải và đi may. Chỉ cần nói chiếc áo mà Hồ Ngọc Hà mặc trong sự kiện hoặc bài hát nào là người thợ hiểu ngay và có thể nhanh chóng tả lại kiểu cổ, viền tay...
Chị Nguyệt (Kim Mã), một khách hàng cho hay, đôi khi chọn một kiểu áo, váy chỉ vì nó được gọi tên rất "mỹ miều". Nhiều bạn bè cũng gọi tên ngay được chiếc áo chị đang mặc, các sao từng mặc trong dịp nào, thậm chí bao nhiêu tiền.
Nhiều cửa hàng còn đăng ảnh ca sĩ hoặc diễn viên đến thử váy nhằm "câu khách". Nhờ đó, những chiếc váy ấy liên tục được "hỏi thăm" và nhanh chóng hết hàng.
Không chỉ quần áo, giày dép, phụ kiện, những kiểu tóc đôi khi cũng mang "thương hiệu" gắn với Minh Hằng, Xuân Lan...Chủ các salon tóc cũng phải cập nhật mẫu liên tục để chiều lòng khách hàng.

Cùng xem sữa chua phân chia lại thị trường sữa như thế nào?

Chẳng hạn, đối với Vinamilk, năm 2012, công ty này cũng đã tung ra nhiều mặt hàng sữa chua như: sữa chua bổ sung collagen Probeauty (chiết xuất từ quả lựu và việt quất), sữa chua ăn ít đường, Probi, sữa chua dâu chuối Susu dành cho trẻ em. Ưu điểm của sữa chua ăn Vinamilk là không chất bảo quản và được lên men tự nhiên (phân biệt với lên men acid).
Vinamilk: 90% ảo hay thật?
Năm 2009, báo cáo phân tích từ các công ty chứng khoán cho thấy, doanh thu sữa chua của Vinamilk chiếm 60% quy mô doanh số toàn ngành với 105,3 triệu USD. Mức tăng trưởng này không hề nhỏ.
Năm 2005, cổ phiếu VNM của Vinamilk niêm yết trên HOSE, trong bảng cáo bạch của công ty này chỉ rõ: Năm 2003, giá trị doanh thu của mảng sữa chua đạt 277 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 10,5%/tổng doanh thu của VNM) đến 2004 là 347 tỷ (chiếm 11,1%).
Ngay thời điểm đó, sản phẩm của Vinamilk cũng khá đơn giản chỉ với một số nhãn như: Yomilk, YaO, sữa chua kem Susu, sữa chua Vinamik, VinamilkPlus và Kefir.
Đi ngược thời gian hơn nữa, vào năm 1993, cột mốc cho sự ra đời sản phẩm sữa chua đầu tiên của nhà sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam, theo số liệu công bố từ Vinamilk, năm đó, sản lượng chỉ đạt 120.000 hũ sữa chua/ngày nhưng hiện nay đã lên đến 6,5 triệu sản phẩm mỗi ngày, tăng 54 lần.
Ngoài ra, Vinamilk cũng đang sở hữu đến 11 nhà máy có khả năng sản xuất sữa chua ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Đây chính là lợi thế của Vinamilk trong việc giải quyết bài toán chi phí vận chuyển sản phẩm đến từng khu vực thị trường để tiêu thụ.
Vì theo như phân tích của các công ty nghiên cứu tiêu dùng, những sản phẩm sữa và được làm từ sữa, chủ yếu được tiêu thụ tại các thành phố lớn như: TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng...
Theo bà Mai Kiều Liên - Tổng Giám đốc Vinamilk, hiện Công ty có hơn 200 mặt hàng thuộc đủ loại sản phẩm từ sữa, như: sữa đặc, sữa bột cho trẻ em và người lớn, sữa tươi, sữa chua... Hầu hết chủng loại sản phẩm của Vinamilk hiện vẫn đang dẫn đầu thị trường. Cụ thể, Vinamilk đang nắm 80% thị phần sữa đặc có đường, 90% thị phần sữa chua, 50% thị phần sữa tươi và 30% thị phần sữa bột.
Cũng theo thông tin từ Vinamilk, năm 2012, Vinamilk đã đạt doanh thu xuất khẩu hơn 180 triệu USD. Trong đó, mặt hàng sữa chua có mức tăng trưởng cao nhất, với mức 99% so với năm 2011.
Với mức tăng trưởng như vậy, Vinamilk nghiễm nhiên dẫn đầu thị trường khi chiếm đến 90% thị phần sữa chua.
Cũng có một số thông tin khác về tỷ lệ này, kể cả sự hoài nghi vì thị trường vẫn còn nhiều đối thủ như: FrieslandCampina (Hà Lan) có ưu thế về sữa chua uống (nhãn Yomost), Kinh Đô với sữa chua uống Well-Yo, IDP với Love in Farm, Yogus (Dalatmilk) cùng gần chục thương hiệu nhập khẩu khác, có thể kể đến như: Milch Geister (Đức), Kids Mix (Đức)...
Nói về thị phần của Vinamilk, ông Nguyễn Trọng Tấn, Giám đốc Công ty Tư vấn thương hiệu Lantabrand cho rằng, đây không là con số "ảo" vì sản lượng tiêu thụ hiện nay của Vinamilk lớn nhất trong các siêu thị. Đó là chưa kể đến hệ thống tủ mát tại các điểm bán lẻ.
Liên quan đến vấn đề này, trong Báo cáo thường niên 2012 của Vinamilk nêu rõ, về hệ thống phân phối, tính đến cuối năm 2012, số điểm lẻ bao phủ trên toàn quốc đạt 200.000 điểm, tăng 22.000 điểm so với cuối 2011 (cùng 250 nhà phân phối độc quyền).
So với công ty cùng ngành như Kinh Đô (KDC), để đẩy mạnh doanh số của nhóm ngành hàng kem, sữa, năm ngoái, KDC cũng đầu tư mạnh hệ thống phân phối lạnh nhưng cũng chỉ đạt 30.000 điểm bán lẻ và 83 nhà phân phối.
Ngoài ra, theo nguồn tin riêng của Báo Doanh Nhân Sài Gòn, Vinamilk cũng gần như "bao thầu" việc cung cấp sữa chua cho nhiều trường học trên địa bàn TP.HCM. "Do đó, con số 90% là hoàn toàn có cơ sở!", ông Tấn nhấn mạnh.
Tuy nhiên, đại diện của Lantabrand cũng cho rằng, điều này không đồng nghĩa với việc các sản phẩm khác trong lĩnh vực sữa chua hết đất chen chân, vì ngay như thời điểm kinh tế khó khăn, ngành sữa nói chung có tốc độ tăng trưởng chậm lại do sức mua giảm nhưng sữa chua lại tăng trưởng ấn tượng, khoảng 25% trong năm 2012. Nguyên nhân là do ngành này vẫn còn mới và đặc biệt là có sự xuất hiện của nhiều nhân tố cạnh tranh mới.
TH Milk: Kẻ chậm chân đầy tham vọng
Sớm nhảy vào thị trường sữa chua để giải quyết tận gốc việc dư sản lượng sữa, nhưng TH Milk không bỏ một đống tiền chỉ để giành được 2-3% thị phần cỏn con.
Nhân tố mới mà ông Nguyễn Trọng Tấn đề cập chính là sữa chua mang thương hiệu Love in Farm của IDP, ra mắt vào tháng 1/2013 và sắp tới là TH Milk.
Trong đó, Love in Farm được xác nhận là đang đứng thứ hai về thị phần với 7 - 8%. Tuy nhiên, với vị thế của một "ông lớn", ít nhất là trong phân khúc sữa nước (theo thông tin không chính thức từ các đối thủ, năm 2012, TH Milk đạt doanh thu 1.700 tỷ đồng), TH Milk sẽ không dừng lại ở chuyện nhảy vào để tranh 2 - 3% thị phần sữa chua còn lại từ các đối thủ nhỏ hơn.
Trả lời Báo Doanh Nhân Sài Gòn, bà Thái Hương, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm sữa TH (TH Milk), cho biết, trong quý III/2013, Công ty sẽ tung sản phẩm sữa chua ăn, sữa chua uống, sữa chua uống men sống làm hoàn toàn bởi sữa tươi nguyên chất từ trang trại TH.
12.465 tỷ đồng
Có thể nhận thấy mức độ tăng trưởng của ngành sữa chua trong những năm gần đây diễn ra khá mạnh mẽ. Cụ thể, năm 2009, theo thống kê của Euromonitor International, doanh số sữa chua toàn thị trường Việt Nam tăng 11% so với năm 2008, đạt 2.000 tỷ đồng. Song, đến năm 2010, chỉ tính riêng sản phẩm sữa chua ăn, doanh số đạt 3.300 tỷ đồng, năm 2012 là 5.737 tỷ đồng và dự kiến năm 2013, con số này ước đạt 12.465 tỷ đồng. Theo đó, tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) về doanh số là trên 31%, riêng sản lượng là 14%.
Hiện tại, TH chỉ có duy nhất sữa nước (sữa tươi tiệt trùng) bao gồm nhiều dòng sản phẩm như sữa nguyên chất 180 ml, sữa ít đường 180 ml, sữa có đường 110 ml, sữa hương dâu 180 ml và sữa hương sô-cô-la 180 ml.
Gần đây, Công ty đã giới thiệu thêm ba sản phẩm mới loại 180ml là sữa tươi tiệt trùng bổ sung collagen, sữa tươi tiệt trùng bổ sung phytosterol, sữa tươi tiệt trùng bổ sung canxi.
Tuy nhiên, việc chậm chân trong cuộc đua ở phân khúc sữa chua phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của TH Milk.
Tham gia thị trường từ năm 2010 nhưng đến nay, TH Milk mới bổ sung thêm danh mục sản phẩm sữa chua.
Điều này, theo đại diện của TH Milk là do chiến lược phát triển của Công ty đã được lên kế hoạch theo từng giai đoạn.
Cụ thể, hiện tại, đàn bò sữa của công ty đã lên đến gần 30.000 con, trong đó có khoảng 14.000 con cho sữa, sản lượng đạt gần 300.000 lít sữa tươi/ngày. Sản lượng sữa tươi nhiều nên phải đa dạng các mặt hàng mà trước mắt là sữa chua.
Xét về mặt lý thuyết, sữa chua và sữa nước là hai loại sử dụng nhiều sữa tươi nguyên liệu nhất. Vào mùa Hè, sức tiêu thụ rất lớn, trong khi bò cho ít sữa hơn. Ngược lại, mùa đông, bò cho nhiều sữa nhưng sức tiêu thụ lại giảm.
Thành ra, theo chia sẻ của ông Trần Bảo Minh, Giám đốc Điều hành IDP, đến mùa nóng, các công ty đều muốn thu mua nhiều sữa từ nông dân, song, lại bị hạn chế dẫn đến tình trạng "khi cần thì không có”.
Do đó, trước khi ra mắt dòng sữa tươi Love in Farm, ông Trần Bảo Minh có đề cập: "Nếu chúng tôi không mở ra được thương hiệu "anh em" với thương hiệu này sẽ gặp rất nhiều vấn đề vì khi sữa dư sản lượng thì biết để ở đâu?
Trong khi mình cam kết với người nông dân là anh cứ đầu tư đi, tôi sẽ đảm bảo về mặt đầu ra, bao nhiêu tôi cũng mua. Khi làm chiến lược kinh doanh thì phải giải quyết tận gốc vấn đề, chẳng lẽ đến mùa Đông, anh bắt người nông dân đổ sữa hoặc bán tháo?".
Điều này có thể giải thích vì sao IDP tung ra sữa chua Love in Farm. Theo chia sẻ của những người trong ngành, do đa dạng danh mục sản phẩm nên Vinamilk chưa bao giờ có hiện tượng "sữa nguyên liệu thừa không biết để đâu".
Giành ngôi thứ 2
Sữa chua là phân khúc giàu lợi nhuận nhất nên các đối thủ của Vinamilk đều muốn tận dụng nó để phân chia lại thị phần.
Tiềm năng thị trường vẫn còn nên phân khúc sữa chua là "miếng bánh" béo bở mà các công ty sản xuất sữa đều muốn nhảy vào và muốn đa dạng hóa sản phẩm để chiếm giữ thị trường.
Chẳng hạn, đối với Vinamilk, năm 2012, công ty này cũng đã tung ra nhiều mặt hàng sữa chua như: sữa chua bổ sung collagen Probeauty (chiết xuất từ quả lựu và việt quất), sữa chua ăn ít đường, Probi, sữa chua dâu chuối Susu dành cho trẻ em. Ưu điểm của sữa chua ăn Vinamilk là không chất bảo quản và được lên men tự nhiên (phân biệt với lên men acid).
Trên thực tế, đây cũng là tiêu chí của TH Milk hay IDP nói về ưu điểm trong sản phẩm của họ. Nếu cả ba "ông lớn" đều khẳng định là sản phẩm của mình "tự nhiên 100%" từ nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất cho đến mùi vị... vậy, đâu sẽ là yếu tố để họ "kình" nhau?
Ông Nguyễn Trọng Tấn, nhận xét, về khả năng và mức độ cạnh tranh, sữa chua Kinh Đô, Ba Vì (cũng thuộc IDP) hoặc Mộc Châu... có phạm vi và đối tượng phục vụ nhất định nên thị phần bị giới hạn. Ba Vì xuất hiện nhiều ở thị trường phía Bắc.
Kido mua cổ phần của Nutifood, Tribeco để phát triển mảng thị trường nhiều tiềm năng này. Bên cạnh đó, tận dụng hệ thống hơn 100.000 điểm bán lẻ có sẵn từ Tập đoàn Kinh Đô. Tuy nhiên, Kido đang thực hiện chiến lược tự tạo ra một phân khúc mới để khai thác: sản phẩm sữa chua cao cấp và sữa chua dành cho trẻ em.
Hơn nữa, trong cơ cấu doanh thu của Kinh Đô, sữa chua chỉ chiếm khoảng 4% (bằng với sản phẩm snack và chỉ hơn sản phẩm kẹo - theo số liệu của Công ty tính đến tháng 6/2016). Do vậy, trước mắt, sẽ khó ai "công phá” được vị trí của Vinamilk.
Vậy có hay không giả định TH Milk sẽ tiến lên vị trí thứ 2 của Love in Farm? Theo quan điểm của ông Tấn, TH Milk sẽ đầu tư cũng như các nhà sản xuất khác vẫn có thể tham gia, nhưng vấn đề đối với sữa chua là kênh phân phối, đặc biệt là chuyện đặt tủ mát tại các điểm bán lẻ trở nên vô cùng quan trọng vì thời gian bảo quản sữa chua ngắn, chỉ trong vòng 45 ngày.
Hiện tại, Vinamilk đã đầu tư hàng nghìn tủ mát với kinh phí trên 70 tỷ đồng (tính đến quý III/2012). Riêng Love in Farm, được biết, hiện nay cũng đã đầu tư khá nhiều vào hạng mục tủ mát ở các điểm bán lẻ.
Bên cạnh kênh phân phối, vấn đề bảo quản và khả năng tạo độ phủ của sản phẩm còn tùy thuộc vào nhà máy sản xuất. Với diễn biến hiện tại, Vinamilk chiếm lợi thế áp đảo vì có nhiều nhà máy. Trong khi đó, cùng với hai nhà máy tại phía Bắc, IDP đang trong quá trình triển khai nhà máy sản xuất tại Củ Chi (TP.HCM).
Còn theo thông tin từ phía TH Milk, giai đoạn đầu, họ chưa xây nhà máy ở phía Nam và nếu không có gì thay đổi, vào ngày 9/7/2013, TH sẽ khánh thành nhà máy sản xuất sữa tươi tại Nghệ An, trong đó có dây chuyền sản xuất sữa chua. Tuy nhiên, phía TH Milk chưa tiết lộ công suất của dây chuyền sữa chua này.

Khám phá thị trường bán lẻ trực tuyến: Chín đợi, mười chờ

Tuy vẫn chưa có nhiều hiệu quả từ mô hình bán hàng này nhưng các DN bán lẻ vẫn tin tưởng vào tương lai và tiếp tục đầu tư. Không tiết lộ cụ thể số tiền đầu tư cho bán hàng online nhưng bà Trang cho biết, trong những năm gần đây, chi phí quảng bá thương hiệu của Big C trên kênh online có tỷ lệ tăng dần theo từng năm.
Vào "like" Co.opmart
Ước tính Việt Nam hiện có khoảng 31 triệu người sử dụng internet, tương ứng 34% dân số. Đây là môi trường thuận lợi cho các dịch vụ mua sắm trực tuyến phát triển, kể cả các doanh nghiệp (DN) bán lẻ.
Và trên thực tế, từ nhiều năm nay, các nhà kinh doanh siêu thị như Co.opmart, Big C, Citimart, Maximark, Fivimart... đã quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, những hoạt động đầu tư của các DN này chỉ dừng ở việc xây dựng trang web giới thiệu công ty và mặt hàng.
Năm 2003, Co.opmart đã công bố bán hàng trực tuyến tại các địa chỉ http://www.saigon-coopmart.com và http://www.saigoncoopmart.com.vn. Liên tục đó đến nay, DN này đã không ngừng chăm chút cho mảng kinh doanh trên nền tảng internet.
Cùng với việc ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới, hệ thống siêu thị Co.opmart cũng đã tung ra trang fanpage Co.opmart (www.facebook.com/hethongcoopmartvn) với mục đích tạo một kênh truyền thông với khả năng tương tác cao với khách hàng.
Mỗi tháng các fanpage còn tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi thông tin với đại diện lãnh đạo Co.opmart. Theo đại diện của Co.opmart, sau hơn 8 tháng ra đời, fanpage Co.opmart đã trở thành cộng đồng của hơn 70.000 fan.
Dù các DN bán lẻ đã bắt đầu khai thác kênh bán hàng hiện đại này nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Trên thực tế, hình thức bán hàng online tại Co.opmart chủ yếu là khách hàng vào trang web xem, sau đó gọi điện thoại đặt hàng và thanh toán khi đã nhận được hàng.
Trong khi đó, bà Dương Thị Quỳnh Trang, Giám đốc Đối ngoại và Quan hệ công chúng hệ thống siêu thị Big C, cho biết, trang web hiện nay của Big C chủ yếu phục vụ cho việc cập nhật thông tin đến người tiêu dùng, giúp khách hàng có đầy đủ thông tin trước khi ra quyết định mua sắm hàng hóa.
Tương tự như website, fanpage Big C chủ yếu phục vụ cho việc cập nhật thông tin, đồng thời là một công cụ giúp Big C có thể tương tác với khách hàng nhanh hơn.
Big C chưa có kế hoạch sử dụng fanpage như là công cụ bán hàng online. "Với siêu thị tổng hợp kinh doanh khoảng 50.000 mặt hàng như Big C, việc triển khai kênh bán hàng online khá phức tạp", bà Trang chia sẻ.
Đầu tư tương lai
Thực tế tại các siêu thị tổng hợp cũng tương tự như kết quả thống kê của các cơ quan chức năng. Hiện tại, kinh doanh online mới chỉ chiếm 0,3 - 0,5% tổng doanh số bán lẻ (khoảng 500 tỷ đồng), trong khi có thể đạt đến 105.000 tỷ đồng/năm.
Báo cáo mới nhất của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam thực hiện với 3.193 DN cho thấy, mới có 42% DN xây dựng website riêng, trong số đó chỉ 29% chấp nhận đặt hàng qua website.
Theo điều tra của Công ty Công nghệ thanh toán toàn cầu VISA, 71% người dùng internet ở Việt Nam mua hàng trực tuyến trong năm 2012 và 90% cho biết họ sẽ mua hàng trực tuyến trong tương lai.
Con số này vẫn còn quá ít so với tiềm năng thị trường. Trong lĩnh vực chuyên về bán hàng trực tuyến, theo báo cáo của nganluong.vn, đến 2/2012 có trên 10.000 website bán hàng đã tích hợp với ví điện tử Ngân Lượng với tổng doanh số trung bình 20-25 tỷ đồng/tháng.
Ước tính của liên doanh Chợ điện tử - eBay, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam sẽ khoảng 6 tỷ USD vào năm 2015. Vì sao thị trường còn nhiều tiềm năng nhưng vẫn chưa nhiều DN đầu tư vào lĩnh vực này?
Theo các DN, có nhiều lý do khiến họ chưa "mạnh tay" cho bán hàng online. Trong đó, quan trọng nhất vẫn là thói quen tiêu dùng. Việc hình thành thói quen mua sắm trên mạng còn gặp khó khăn, phần lớn là do yếu tố niềm tin.
Đặc biệt, thời gian qua, nhiều công ty bán hàng đa cấp trá hình thương mại điện tử như Diamond Holiday, Muaban24... và sự rạn nứt của ngành công nghiệp mua hàng theo nhóm như Deal Sốc, Nhóm Mua... càng khiến cho niềm tin của người tiêu dùng bị sụt giảm.
Mặc dù vậy, vẫn có mô hình bán lẻ trực tuyến thành công như Lazada. Tập đoàn mua bán trực tuyến Lazada cùng các nhà đầu tư vừa công bố khoản đầu tư (bao gồm cũ và mới) đạt trị giá 100 triệu USD vào Lazada.
Được biết, Lazada đã vượt qua mức 1 triệu đơn hàng, hiện có 90% đơn hàng được giao trong ngày và 85% đơn hàng được giao trong ngày tiếp theo. Theo phân tích của ông Trương Văn Quý, Giám đốc EQVN, không phải ngành hàng nào cũng có thể triển khai thương mại điện tử.
Một số ngành như du lịch, sách, điện thoại, thời trang, điện máy... phù hợp với thương mại điện tử hơn so với các ngành khác như kinh doanh hàng tiêu dùng nhanh chỉ có thể sử dụng internet như là một kênh marketing, quảng bá thương hiệu.
Tuy vẫn chưa có nhiều hiệu quả từ mô hình bán hàng này nhưng các DN bán lẻ vẫn tin tưởng vào tương lai và tiếp tục đầu tư. Không tiết lộ cụ thể số tiền đầu tư cho bán hàng online nhưng bà Trang cho biết, trong những năm gần đây, chi phí quảng bá thương hiệu của Big C trên kênh online có tỷ lệ tăng dần theo từng năm.
Khi các kênh truyền thông truyền thống không còn là lựa chọn duy nhất của người tiêu dùng và kênh online ngày càng áp đảo thì chiến lược truyền thông của các DN bắt buộc phải hướng đến kênh truyền thông mới này.
"Trong tương lai, khi các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, logistics... thực sự hoàn thiện, Big C cũng sẽ nghiên cứu việc triển khai kênh bán hàng này để phục vụ nhu cầu mua sắm ngày càng đa dạng của người tiêu dùng", bà Trang cho biết.
Một vị lãnh đạo của Saigon Co.op cho rằng: "Bán hàng trực tuyến cho đến thời điểm này vẫn là xu hướng phát triển tất yếu song hành cùng tốc độ phổ biến nhanh chóng của internet và các ứng dụng di động tại Việt Nam. Tuy nhiên, khai thác thế nào để kênh bán hàng này thật sự hiệu quả thì đòi hỏi DN phải có sự đầu tư nghiên cứu về thói quen tiêu dùng, văn hóa tiêu dùng cho từng ngành hàng, từng dòng sản phẩm".

Hyundai lột xác như thế nào?

Trong 10 năm qua, các nhà máy ở nước ngoài của Hyunda đã bành trướng rất nhanh, với 15 nhà máy tại 4 châu lục. Thậm chí, lượng ôtô sản xuất ra ở các nhà máy tại nước ngoài nay đã vượt qua cả lượng ôtô sản xuất nội địa. Nhưng sự bành trướng này dường như đã chững lại (đến nay vẫn chưa có công bố chính thức nào của Hyundai về kế hoạch gia tăng nhà máy mới).
Hyundai đã trở thành nhà sản xuất ôtô lớn thứ 5 trên thế giới và nuôi tham vọng tạo ra một thương hiệu đẳng cấp với biên lợi nhuận thật hấp dẫn.
Điều thần kỳ
Ý nghĩ Hyundai là một thương hiệu cao cấp thoạt nghe có vẻ ngớ ngẩn. Sau khi bước chân vào ngành ôtô bắt đầu bằng việc lắp ráp xe cho hãng Ford, Hyundai đã tung ra nhãn hiệu xe đầu tiên mang tên Pony của mình vào năm 1975.
Chiếc Pony đã đưa Hyundai tiến vào thị trường xuất khẩu, nhưng mẫu xe này chẳng có gì để nói ngoài yếu tố giá rẻ. Nhiều thập kỷ sau đó, tờ báo Globe and Mail của Canada đã “vinh danh” Pony là một trong 10 chiếc ôtô tồi tệ nhất từng được bán ra tại thị trường Canada, ví nó như “một chiếc Honda Civic được làm ra trong một ngõ hẻm bởi một tay thợ rèn say xỉn”.
Tiếp thị bằng chất lượng
Tiếng tăm của công ty ở các thị trường nước ngoài vẫn rất tệ khi Chung Mong-koo, người con cả của Chung Ju-yung, lên điều hành Hyundai vào cuối thập niên 1990. Để thay đổi điều này, lãnh đạo Hyundai đã quyết định phải rũ bỏ hình ảnh “rẻ tiền và tồi tệ” của mình tại thị trường Mỹ.
Năm 1999 là năm bước ngoặt của Hyundai khi hãng xe này tung ra một chiến dịch marketing thông minh: bảo hành xe trong 10 năm và 100.000 dặm. Cho đến thời điểm đó, đây là chương trình bảo hành “hào phóng” nhất trên thị trường và đã giúp xóa đi cái tiếng “nhà sản xuất kém cỏi” của công ty.
Đồng thời, Hyundai đã xây dựng được một bộ phận kiểm soát chất lượng, theo dõi gắt gao từng công đoạn trên dây chuyền cung ứng. Đến năm 2006, Hyundai đã trở thành nhà sản xuất ôtô đáng tin cậy đứng thứ ba, chỉ sau Porsche và Lexus, theo một nghiên cứu của JD Power.
Không những xóa bỏ được định kiến “kém cỏi”, những chiếc xe Hyundai và Kia vẫn giữ được lợi thế giá rẻ, nhờ các biện pháp cắt giảm chi phí ráo riết và một mạng lưới các nhà cung cấp có chọn lọc.
Điều này đã mang lại lợi ích lớn cho Hyundai sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Khi đó, Hyundai đã tiến hành một chiến dịch marketing thông minh khác tại Mỹ: cam kết sẽ hoàn lại tiền cho những khách hàng lo ngại bị mất việc làm.
Kết quả: Hyundai và Kia đã cùng nhau tận hưởng mức tăng trưởng số lượng xe bán ra trên toàn cầu lên tới hơn 20% trong 2 năm 2009 và 2010.
Kể từ khi Chung lên nắm quyền, doanh số bán ôtô hằng năm của Hyundai và Kia đã tăng hơn 600%. Nhưng năm nay, Chung đã khuyến cáo các nhà đầu tư rằng, tăng trưởng doanh thu sẽ chỉ vào khoảng 4%, mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Đó là vì Chung muốn Hyundai tập trung vào việc nâng cao chất lượng hơn là chú trọng vào lượng ôtô bán ra.
Học nhanh từ những gã khổng lồ
Trong 10 năm qua, các nhà máy ở nước ngoài của Hyunda đã bành trướng rất nhanh, với 15 nhà máy tại 4 châu lục. Thậm chí, lượng ôtô sản xuất ra ở các nhà máy tại nước ngoài nay đã vượt qua cả lượng ôtô sản xuất nội địa. Nhưng sự bành trướng này dường như đã chững lại (đến nay vẫn chưa có công bố chính thức nào của Hyundai về kế hoạch gia tăng nhà máy mới).
Sự hãm phanh của Hyundai phần lớn có nguyên nhân từ cuộc khủng hoảng thu hồi ôtô của Toyota khi các vấn đề về an toàn đã buộc hãng xe Nhật này phải thu hồi tới hàng triệu chiếc trên toàn cầu. Một số người cho rằng, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là vì Toyota đã bành trướng quá nhanh.
“Chúng tôi đã học được nhiều bài học từ trường hợp của Toyota. Chúng tôi tin rằng, đây là lúc thích hợp để tạo dựng dấu ấn về tăng trưởng chất lượng hơn là tăng trưởng số lượng”, ông Cho nói.
Các đối thủ cũng nhận thấy những cải tiến rõ rệt về chất lượng của Hyundai. Tại Triển lãm ôtô Frankfurt 2011, Tổng Giám đốc Martin Winterkorn của Volkswagen đã tức giận chụp lấy thiết bị điều chỉnh tay lái của chiếc hatchback i30 do Hyundai sản xuất.
“BMW không thể làm được thiết bị như thế này. Chúng ta cũng không thể làm được như thế. Làm thế nào mà họ lại làm được?”, ông nói.
Câu trả lời cho câu hỏi của ông Winterkorn nằm một phần ở vị thế của Hyundai. Hyundai Motor là công ty con của Tập đoàn Hyundai, tập đoàn lớn thứ hai của Hàn Quốc.
Lớp vỏ bên ngoài của những chiếc ôtô Hyundai và Kia được làm từ loại thép do Hyundai Steel cung cấp. Hyundai Mobis cung cấp các linh kiện, phụ tùng từ bộ phận hãm xung cho đến túi khí.
Hyundai Glovis vận chuyển những chiếc ôtô thành phẩm đến tay người tiêu dùng – những người có thể mua xe bằng cách sử dụng gói hỗ trợ vốn do Hyundai Capital cung cấp.
Để có thể mang lại dáng vẻ như những chiếc ôtô cao cấp của Đức, Hyundai đã chiêu dụ chính những nhà thiết kế đã tạo nên những chiếc xe đó. Các trung tâm thiết kế tại Frankfurt và California của Hyundai đều do những người Hyundai đã chiêu dụ từ hãng BMW phụ trách giám sát.
Năm 2006, Kia đã thuê được Peter Schreyer, thiết kế trưởng của nhãn xe Audi (thuộc Volkswagen), để mang lại dáng dấp thanh lịch và thể thao hơn cho những chiếc xe của hãng.
Theo Larry Dominique, Chủ tịch Hãng Nghiên cứu ALG, kiểu dáng lịch lãm đã giúp đưa 2 nhãn xe Hyundai và Kia “vốn mờ nhạt tiến lên một nấc thang mới”. Mặc dù tiếng tăm đã được cải thiện nhiều, nhưng Hyundai và Kia vẫn còn va vấp.
Hồi tháng 11 năm ngoái, họ thừa nhận đã nói quá về khả năng tiết kiệm nhiên liệu của hơn 1 triệu chiếc xe bán ra tại Bắc Mỹ. Sáu tháng sau đó, họ đã thu hồi hơn 2 triệu chiếc tại Bắc Mỹ và Hàn Quốc do lỗi đèn phanh.
Tuy nhiên, theo nhận xét của Philippe Houchois, chuyên gia phân tích của UBS, “thu hồi xe là một phần của cuộc sống. Tôi không cho rằng họ tệ hơn các hãng xe đối thủ khác”.
Mặc dù Hyundai vẫn còn phải làm nhiều thứ để đạt được thương hiệu xe cao cấp, nhưng không thể phủ nhận cuộc thay da đổi thịt của hãng xe này là khá ngoạn mục.

Giới thiệu với bạn sự việc :Bibica - Chọn sai "bạn", nguy cơ mất thương hiệu

Tuy nhiên, khi cổ phiếu lên giá, nhân viên công ty thi nhau bán. Đến nỗi, công ty phải thực hiện một số biện pháp cực đoan như quy định ai bán cổ phiếu sẽ không nhận con em vào làm việc…, nhằm ngăn chặn người lao động bán cổ phiếu cho người khác. Nhưng rốt cuộc, chỉ sau thời gian ngắn, cổ phiếu của người lao động bị bán hết.
Hợp tác và mất quyền tự quyết
Thực tế, cuộc chiến Bibica - Lotte đã chính thức được châm ngòi vào ĐHCĐ cuối năm 2012, khi phía Lotte đòi đổi tên công ty thành Lotte - Bibica nhưng bất thành.
Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) năm 2013 của Công ty cổ phần Bibica bất thành, các cổ đông lục tục ra về, nhóm cổ đông phía Lotte tập trung lại một góc để bàn bạc.
Cái bắt tay nồng ấm hợp tác 5 năm trước đã biến mất, tại đại hội ông Trương Phú Chiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bibica và nhóm cổ đông Lotte (chiếm khoảng 39% cổ phần Bibica) gần như không nhìn mặt nhau. Giới báo chí vây quanh ông Chiến với câu hỏi: Liệu có giữ được thương hiệu Bibica hay không?
Thực tế, cuộc chiến Bibica - Lotte đã chính thức được châm ngòi vào ĐHCĐ cuối năm 2012, khi phía Lotte đòi đổi tên công ty thành Lotte - Bibica nhưng bất thành. Hiện Bibica chấp nhận phạt và xin gia hạn nhưng đến nay, đã đầu tháng 7/2013, tức sau hơn 2 tháng ĐHCĐ Bibica vẫn chưa biết khi nào mới tổ chức lại được.
Trước ĐHCĐ “hụt” đúng 1 tuần, tại phòng làm việc ở trụ sở Công ty Bibica (Lý Thường Kiệt, Q.Tân Bình, TP.HCM), ông Trương Phú Chiến, dù cố gắng tiết chế cảm xúc nhưng vẫn không giấu nổi sự nuối tiếc và lo lắng khi thừa nhận sai lầm khi hợp tác với Lotte.
"Khi mời Lotte làm đối tác, Bibica mong muốn có sự hợp tác toàn diện từ quản lý, công nghệ đến kỹ thuật, xuất nhập khẩu…, nhưng Lotte lại muốn biến Bibica thành của riêng của họ”, ông Chiến nói.
Theo ông Chiến, khi quyết định hợp tác với Lotte, ông còn quá non kinh nghiệm. Cứ nghĩ hợp tác để tận dụng ưu thế công nghệ, kinh nghiệm của họ, nhưng thực chất bị “sập bẫy”. Hợp tác xong chẳng thấy chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm gì hết mà chỉ thấy bị chèn ép, bị phụ thuộc.
Vỡ lẽ ra thì mọi chuyện đã muộn màng. Lotte đã lộ rõ ý muốn khai thác Bibica thành đơn vị sản xuất, phát triển thương hiệu cho Lotte.
Công thần và tội đồ
“Khi chọn đối tác, là khi bán cổ phần cho đối tác đầu tư, doanh nghiệp cần quy định cổ phần tối thiểu và tối đa sẽ hạn chế khả năng thao túng doanh nghiệp. 
Thông thường, tỷ lệ cổ phần dưới 25% là tỷ lệ cổ phần an toàn. Doanh nghiệp nên hạn chế mức cổ phần trên 34%, để ngăn ngừa mức độ phủ quyết của các ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều, gây ảnh hưởng đến sự phát triển thống nhất của doanh nghiệp”, ông Chiến chia sẻ.
Từ năm 1987, sau khi ra trường, ông Chiến đã về Nhà máy lọc đường Biên Hòa (tiền thân Công ty đường Biên Hòa sau này) làm việc cho đến bây giờ. Có thể nói, cuộc đời ông gần như gắn trọn với Bibica.
Từ cậu sinh viên trẻ trung đầy hoài bão cho đến khi mái đầu bạc trắng gần hết, ông vẫn là người của Bibica.
Điều này càng khiến ông thêm đau đớn bởi quyết định hợp tác với Lotte khiến Bibica sắp sửa rơi vào tay đối tác nước ngoài. Vừa là công thần, vừa là tội đồ, nỗi day dứt của ông Chiến là điều có thể hiểu được.
"Khi nắm được công ty, họ sẽ hất tôi ra. Tôi biết điều đó nhưng trong khả năng có thể tôi làm hết sức để bảo vệ quyền lợi người lao động công ty. Tôi sẵn sàng cho việc mất chức tổng giám đốc và không có gì phải nuối tiếc.
Tôi hối hận là từ sai lầm của mình dẫn đến công ty phải trả giá và đối mặt với nguy cơ mất đi thương hiệu Việt uy tín mà nhiều thế hệ cán bộ, nhân viên Bibica tâm huyết, dành cả đời gầy dựng nên”, ông Chiến tâm sự.
Ông Trần Văn Lịch, từng là thành viên điều hành Bibica và hiện vẫn đang làm việc tại đây cho biết, không thể đổ tất cả lỗi do ông Chiến vì trước đó, khi mới vừa cổ phần công ty đã bị mất kiểm soát. Với chủ trương người lao động ai cũng có cổ phần nên khoảng hơn 80% cổ phần của Bibaca thuộc về người lao động.
Tuy nhiên, khi cổ phiếu lên giá, nhân viên công ty thi nhau bán. Đến nỗi, công ty phải thực hiện một số biện pháp cực đoan như quy định ai bán cổ phiếu sẽ không nhận con em vào làm việc…, nhằm ngăn chặn người lao động bán cổ phiếu cho người khác. Nhưng rốt cuộc, chỉ sau thời gian ngắn, cổ phiếu của người lao động bị bán hết.
Từ chỗ nắm hơn 80% cổ phần công ty, đến nay, chỉ còn chưa đến 1% cổ phần công ty. “Cổ phiếu nội bộ biến thành đại chúng, vượt ngoài dự đoán của lãnh đạo công ty, mất kiểm soát”, ông Lịch chua xót.
Bà Ngô Thị Phương Thảo, Giám đốc đối ngoại Công ty cổ phần Bibica, kể trong tiệc tri ân những cán bộ có thâm niên 20 năm trở lên gắn bó cống hiến cho Bibica tổ chức năm 2012 có sự góp mặt của vài chục “tiền bối”. Lạ lùng thay, trong tiệc vui mà mọi người cứ ôm nhau khóc vì biết rằng ngôi nhà thứ hai của họ là Công ty Bibica đang lâm nguy và số phận chưa biết ra sao.
Niềm hy vọng cuối cùng của ông Chiến là nhóm cổ đông SSI (nắm khoảng 30% cổ phần) và các cổ đông trong nước liên kết với nhau để tạo thành đối trọng, ngăn Lotte thực hiện việc thâu tóm Bibica.
Nhưng với lượng cổ phần sở hữu lên tới 39% và tham vọng thôn tính không giấu giếm, giữ được thương hiệu Bibica không hề đơn giản.

Vì sao ngành vàng lại kêu cứu?

Hiện nay, các DN vàng Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ đang có rất nhiều lợi thế cạnh tranh hơn các DN vàng Việt Nam (thuế suất xuất khẩu bằng 0%, nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, chi phí nhân công rẻ hơn, thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại hơn...) và đang thống lĩnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm vàng trang sức, vàng mỹ nghệ thế giới.
Tại nghị trường Quốc hội, các bộ trưởng, đặc biệt là Bộ trưởng Bộ Xây dựng, kiến nghị Quốc hội và Chính phủ tháo gỡ cho ngành của mình. Trong lúc ở ngành vàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thời gian qua chỉ ban hành những quyết định, thông tư với những điều "cấm" và "cấm".
Ngân hàng (NH) giảm lãi suất cho các ngành khác vay, cho vay ưu đãi... nhưng với ngành vàng thì không. Vàng cũng là một loại hàng hóa, tại sao có sự phân biệt, bên trọng bên khinh? Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng muốn cho ngành vàng vay, nhưng vướng quy định DN muốn vay tiền mua vàng phải được NHNN chấp thuận.
Tại TP.HCM có hơn 3.000 DN sản xuất kinh doanh vàng với khoảng hơn 30.000 lao động (chưa tính các hộ sản xuất kinh doanh cá thể). Theo khảo sát, 70% các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong tổng số hơn 500 hộ đã ngưng hoạt động (mỗi hộ có từ 10 đến 300 lao động), một phần nguyên nhân do việc ban hành các chính sách về sản xuất, kinh doanh vàng.
Trong khi mức thuế suất xuất khẩu mặt hàng vàng trang sức, vàng mỹ nghệ hiện nay là 0% vẫn không xuất khẩu được vì giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, việc Bộ Tài chính dự kiến tăng thuế suất xuất khẩu đối với mặt hàng này từ 0% lên 1-2% khiến nhiều DN có xuất khẩu mặt hàng này hết sức lo lắng.
Hiện nay, các DN vàng Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ đang có rất nhiều lợi thế cạnh tranh hơn các DN vàng Việt Nam (thuế suất xuất khẩu bằng 0%, nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, chi phí nhân công rẻ hơn, thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại hơn...) và đang thống lĩnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm vàng trang sức, vàng mỹ nghệ thế giới.
Trong khi đó, các DN Việt Nam phải nhập khẩu nguyên liệu gần như hoàn toàn (vàng, đá quý, đá bán quý...). Hơn nữa, hiện nay giá vàng Việt Nam cao hơn giá vàng thế giới, và biên độ mua bán chênh lệch về giá của họ chỉ khoảng 1/1.000.
Vì vậy, các DN Việt Nam sẽ không thể xuất khẩu được vàng trang sức, vàng mỹ nghệ nếu phải chịu thuế suất từ 1-2% như quy định tại dự thảo thông tư nói trên của Bộ Tài chính.
Do đó, để thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ về sản xuất vàng trang sức, vàng mỹ nghệ, đặc biệt cho thị trường xuất khẩu để tái tạo ngoại tệ cho đất nước, Hội Mỹ nghệ - Kim hoàn - Đá quý TP.HCM đề xuất với Bộ Tài chính quy định thuế suất xuất khẩu vàng trang sức, vàng mỹ nghệ là 0%.
70%
Theo khảo sát, 70% các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong tổng số hơn 500 hộ đã ngưng hoạt động (mỗi hộ có từ 10 đến 300 lao động), một phần nguyên nhân do việc ban hành chính sách về sản xuất, kinh doanh vàng.
Đồng thời, NHNN cho phép mở rộng mạng lưới mua bán vàng thay vì mới cấp phép cho 38 NH và các công ty kinh doanh vàng đáp ứng đủ điều kiện được quy định tại Nghị định 24, với gần 2.500 điểm giao dịch trên cả nước hiện nay; giảm thủ tục hành chính và ủy thác DN nhập vàng nguyên liệu cho những DN đáp ứng quy định về vốn và quy mô sản xuất để phát triển vàng trang sức nhằm mở rộng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu vàng trang sức, vàng mỹ nghệ.
Nếu không, thị trường vàng trang sức, vàng mỹ nghệ sắp tới chỉ hoàn toàn thuộc về các DN Trung Quốc!
Trong lúc đó, các DN tư nhân kinh doanh vàng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng vẫn tiếp tục mua bán vàng miếng như trước, mặc dù đã bị cấm.
Họ mua bán lén lút vì sợ bị phát hiện, bị phạt, bị tịch thu tang vật... nhưng vì cuộc sống họ vẫn làm, bất chấp chính sách. Rõ ràng, các cơ quan quản lý cần có biện pháp cụ thể với vấn đề này, bên cạnh cho phép mở rộng mạng lưới mua bán vàng miếng của các NHTM và các DN có đủ điều kiện.
Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng quy định NHNN độc quyền xuất nhập khẩu vàng. Thế nhưng, chức năng chủ yếu của cơ quan này là quản lý, giám sát thị trường nên về lâu dài, không thể cứ tự xuất nhập khẩu vàng mà cần tính tới một giải pháp hợp lý hơn.
Thực tế, NHNN đã và sẽ chi hơn 1 tỷ USD để nhập khẩu 25,3 tấn vàng bù lại số vàng dự trữ đã bán ra thời gian gần đây. Với giá bán luôn cao hơn giá vàng thế giới từ 3-5 triệu đồng/lượng, NHNN có thể thu về cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng.
Tuy vậy, NHNN không nên duy trì mãi chức năng kinh doanh vì theo thông lệ quốc tế, ít có NH trung ương nào đứng ra xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất, kinh doanh vàng miếng thu lợi nhuận.
Do đó, việc xuất nhập khẩu vàng nên chọn lọc ủy thác một số DN thực hiện. NHNN chỉ nên giám sát và kiểm soát số vàng xuất nhập sao cho đúng mục tiêu, phù hợp với những quy định của Nghị định 24.
Theo Nghị định 24 của Chính phủ về tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh vàng, hạn chót là ngày 25/5/2013 để các DN sắp xếp lại hoạt động sản xuất, mua bán vàng trang sức, vàng mỹ nghệ hoặc chuyển đổi ngành nghề mua bán hay sản xuất.
Tại TP.HCM hiện mới có hơn 40 trên tổng số 3.000 DN được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, vàng mỹ nghệ. Nguyên nhân sự chậm trễ này là các thủ tục theo quy định mới quá phức tạp, trong lúc đó phần lớn DN kinh doanh vàng ở TP.HCM có quy mô nhỏ, không nắm rõ thủ tục hành chính.
Việc xin cấp lại giấy phép kinh doanh được nhiều DN cho là không cần thiết vì đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước đó rồi. Nếu trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũ đã được cấp phép mua bán vàng thì không nên yêu cầu DN đăng ký lại, trừ trường hợp DN muốn sản xuất vàng trang sức, vàng mỹ nghệ mới phải làm thủ tục xin giấy chứng nhận đủ điều kiện tại NHNN chi nhánh TP.HCM.