Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Tin vui cho Thiên Long: Lãi lớn từ cây bút nhỏ

“Mỗi thị trường có một cách đánh khác nhau, đó là câu chuyện dài”, ông Nghĩa nói. Từ những kinh nghiệm của ông cùng với sự trả giá về công sức, tiền bạc và sự kiên trì mà đến nay Thiên Long có văn phòng đại diện tại Đức, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Sản phẩm Thiên Long có mặt ở hơn 30 quốc gia của 5 châu lục và tỉ trọng doanh thu các mặt hàng xuất khẩu của Tập đoàn đã tăng gần 3 lần tính từ năm 2007 đến 2012.
Tính cần mẫn và tập trung được phản ánh xuyên suốt trong chuyện kinh doanh của Thiên Long.
Chúng tôi ghé thăm văn phòng Công ty Thiên Long (mã cổ phiếu TLG) nằm trong Khu Công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân một ngày cuối tuần. Nơi làm việc của Tổng Giám đốc tập đoàn chuyên về các sản phẩm văn phòng có lịch sử hơn 30 năm này bày trí rất đơn giản. Nổi bật hơn cả là chiếc xích lô mô hình được trưng bày trong tủ kính.
Cam kết với cổ đông chỉ làm văn phòng phẩm đã được TLG giữ đúng. Tập đoàn này không dính vào bất kỳ khoản đầu tư trái ngành nào.
Từ ngày làm việc với nhà phân phối đầu tiên cho đến nay, ông luôn tặng cho mỗi nơi một chiếc xích lô như vậy. “Chúng ta cùng cày đi!” là câu nói đầu tiên mà ông Võ Văn Thành Nghĩa, Tổng Giám đốc TLG, nói với các nhà phân phối. Đó là một cách nhắn gửi rất khác biệt với đối tác về tính cần cù trong công việc.
Đánh nhỏ thắng lớn
Tính cần mẫn và tập trung được phản ánh xuyên suốt trong chuyện kinh doanh của Thiên Long.
Trái với thông lệ dội bom quảng cáo và truyền thông mỗi khi ra mắt sản phẩm mới của các nhà sản xuất hàng tiêu dùng, ông Nghĩa chỉ chọn con đường du kích. Từ năm 2008, Thiên Long đã âm thầm tung ra thị trường nhiều dòng sản phẩm mới để thăm dò.
Đợi đến khi xuất hiện những dấu hiệu tốt cho thấy người dùng chấp nhận sản phẩm Thiên Long mới dán nhãn mang thương hiệu của mình vào và đẩy mạnh tiếp thị từ cuối năm 2011. Cách làm này giúp Thiên Long tránh được tình trạng sản phẩm chết yểu không lâu sau khi chiến dịch quảng bá kết thúc.
Đó còn là sự tỉnh táo của Ban Lãnh đạo và Chủ tịch Cô Gia Thọ không mê tăng trưởng nóng mà sa đà vào đầu tư đa ngành. Trực tiếp và gián tiếp sở hữu gần 60% cổ phần TLG, vị chủ tịch là người gốc Hoa này đã tuân thủ triết lý kinh doanh kinh điển của người Hoa là “chỉ làm những gì mình hiểu biết”.
Mục tiêu chiến lược của Thiên Long giai đoạn 2010 - 2014 là làm văn phòng phẩm đã sớm được vạch ra. Và từ đó đến nay, doanh nghiệp tư nhân niêm yết này đã làm đúng cam kết với cổ đông, không dính đến bất cứ khoản đầu tư nào khác ngoài văn phòng phẩm.
Cuối năm 2011, Thiên Long định hình lại cơ cấu sản phẩm với 5 nhóm chính: nhãn hàng Điểm 10 (dụng cụ học tập), Colokit (dụng cụ mỹ thuật), Flexoffice (dụng cụ văn phòng), TL (bút viết thông dụng) và Bizner (bút cao cấp cho doanh nhân).
Các dòng sản phẩm này bao phủ hầu như tất cả nhu cầu sử dụng văn phòng phẩm của nhiều người, từ khi đi học đến lúc đi làm và đến khi thành đạt. Tính chất phổ biến của sản phẩm đã giúp doanh thu Công ty tăng lên một cách đều đặn.
Mặt khác, Thiên Long còn có được một tỉ suất lợi nhuận trên mỗi sản phẩm khá ấn tượng, như sản phẩm bút viết là 42%. Điều này làm cho chính các cổ đông của TLG phải ngạc nhiên.
Doanh thu thuần và tỉ lệ lợi nhuận gộp/doanh thu TLG giai đoạn 2007 - 2012
Từng có một cổ đông chất vấn Ban Lãnh đạo: “Làm bút viết mà lãi hơn trăm tỉ, kết quả này đến từ đâu?”. Đáp lại câu hỏi nhiều ẩn ý này, ông Nghĩa chỉ trả lời khiêm tốn: “Nhờ hên!”.
Trên thực tế, tỉ suất lợi nhuận này đến từ chiến lược giá của Thiên Long, đứng đầu là ông Nghĩa. Mặc dù hiểu rằng số lượng khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm giá rẻ là không nhỏ, nhưng Thiên Long không chạy theo thị hiếu đó.
“Sản phẩm tốt mà giá rẻ thì không bao giờ có. Chỉ có giá chấp nhận được”, ông Nghĩa nói. Giá chấp nhận được theo ý ông là giá thành sản xuất và giá bán không quá chênh lệch và giá bán phải tương xứng với chất lượng. Bởi vậy, dù hàng giá rẻ của Trung Quốc có lấn át hàng mang thương hiệu Thiên Long ở một số tỉnh miền Trung, nhưng Thiên Long chưa bao giờ chột dạ.
Sự tập trung và chiến lược tỉnh táo này không chỉ đảm bảo cho Thiên Long một vị trí đầu ngành vững chắc mà còn mang lại kết quả kinh doanh ấn tượng. Văn phòng phẩm của Thiên Long với độ phủ cả nước đang độc chiếm thị trường, chỉ phải cạnh tranh với một số thương hiệu nổi tiếng thế giới đến từ Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ… với thị phần rất nhỏ.
Theo thống kê của Thiên Long, nhóm bút viết của họ hiện chiếm khoảng 60% thị trường cả nước, nhóm văn phòng phẩm chiếm 30%, dụng cụ học tập 6% và mỹ thuật 20%.
Tăng trưởng doanh thu bình quân giai đoạn 2010 - 2012 đạt đến 36%, giúp cho Thiên Long nằm trong số ít những doanh nghiệp có thể tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đến 20% trong giai đoạn này. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE) trung bình giai đoạn này đạt trên 19%. TLG cũng chiếm vị trí thứ 33 trong trong bảng xếp hạng “50 công ty kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam 2013” do NCĐT bình chọn.
Tốc độ tăng trưởng hằng năm luôn trên 30%, thách thức đặt ra cho Thiên Long cũng không ít. Đáng quan tâm nhất là vấn đề nguyên liệu. “Thiên Long không làm chủ được 100% nguyên vật liệu”, ông Nghĩa cho biết.
Bút viết vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu thuần 2012
Mặc dù kiểm soát được khá nhiều công nghệ đầu vào nhưng có một số vẫn phải nhập. Chẳng hạn như đầu viết. “Cái này phải dùng kỹ thuật tinh xảo, để kiểm soát phải tốn rất nhiều chi phí”, ông lý giải. Nguyên liệu chính là nhựa, chiếm trung bình 55% chi phí nguyên vật liệu, cũng không ít rủi ro, nhất là rủi ro biến động giá và tỉ giá.
Đồng thời, trong những năm gần đây, chi phí nhân công tăng lên cũng là lo ngại của Thiên Long. Với quy mô gần 3.000 lao động, mỗi lần tăng là tăng rất nhiều.
Muốn kiểm soát chuyện này bắt buộc phải tăng doanh thu. Thách thức kinh tế trong nước những năm qua khiến cho việc tăng doanh thu nội địa càng ngày càng bị thu hẹp so với tham vọng của công ty này. Và xuất khẩu đang trở thành con bài chiến lược của Thiên Long trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
Con bài xuất khẩu
Ông Nghĩa cũng là người khởi xướng và cầm cương trong hoạt động này. Ông Nghĩa khởi đầu công việc với vai trò cố vấn cho ông Cô Gia Thọ, đồng thời là người thuyết giảng trong những buổi đào tạo nội bộ của doanh nghiệp này.
Đến năm 2007, ông được Chủ tịch Cô Gia Thọ trao quyền Tổng Giám đốc. Con đường kinh doanh quốc tế vốn được Thiên Long nhắm đến từ lâu cũng bắt đầu được đẩy mạnh từ lúc đó.
Ông Thọ hẳn có chủ ý khi chuyển giao chiếc ghế điều hành cao nhất ở Thiên Long cho ông Nghĩa. Trong con người ông Nghĩa ẩn chứa những tố chất của một người làm kinh doanh quốc tế.
Ngoài tính cần mẫn và tài diễn thuyết, ông Nghĩa còn được biết đến với khả năng nói 5 ngôn ngữ khác nhau. Nếu ở thị trường trong nước ông Nghĩa từng đặt chân đến 63 tỉnh thành thì với thị trường xuất khẩu ông cũng đã rảo bước khắp các hội chợ trên hầu hết các châu lục để tìm kiếm khách hàng.
Thời gian đầu khá vất vả, mỗi thị trường là một kinh nghiệm thương đau. Dù Lào và Campuchia là hai thị trường gần Việt Nam nhưng để nắm chắc ông Nghĩa phải bỏ ra 5 năm để theo sát.
Tỉ trọng doanh thu xuất khẩu đang tăng dần
Càng làm càng có kinh nghiệm, khi vào Thái Lan và Trung Quốc thời gian giảm xuống còn 2 năm. Và đến khi thị trường Myanmar mở cửa, ông Nghĩa chỉ cần 3 tháng để Thiên Long bước chân vào.
Thành công lớn nhất của Thiên Long có lẽ là được thị trường Trung Quốc đón nhận. Trung Quốc là quốc gia số 1 trên thị trường văn phòng phẩm thế giới.
Xuất khẩu vào Trung Quốc được ông Nghĩa ví như “chở củi về rừng”. Bởi vậy, với thị trường này, ông không lấy nhãn hiệu Thiên Long (mặc dù Thiên Long là một cái tên rất đẹp đối với người Hoa), mà lấy thương hiệu quốc tế là “Flexoffice” và “Colokit”.
“Mỗi thị trường có một cách đánh khác nhau, đó là câu chuyện dài”, ông Nghĩa nói. Từ những kinh nghiệm của ông cùng với sự trả giá về công sức, tiền bạc và sự kiên trì mà đến nay Thiên Long có văn phòng đại diện tại Đức, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Sản phẩm Thiên Long có mặt ở hơn 30 quốc gia của 5 châu lục và tỉ trọng doanh thu các mặt hàng xuất khẩu của Tập đoàn đã tăng gần 3 lần tính từ năm 2007 đến 2012.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, bên cạnh việc xuất hàng mang nhãn hiệu riêng, Thiên Long còn tính đến việc gia công cho các khách hàng lớn, chủ yếu là ở Mỹ và Nhật. Gia công có thể mang lại những hợp đồng lớn và thu tiền về ngay. Theo ông Nghĩa, tính trung bình cả 2 hoạt động ở mảng xuất khẩu, lãi gộp ở mức 10-15%.
Tất nhiên, mong muốn của Thiên Long không chỉ dừng lại ở việc có tiền, mà còn cả tiếng. Vì vậy, gia công sẽ chỉ là bước đệm giúp doanh nghiệp này tìm hiểu và thâm nhập sâu hơn các thị trường xuất khẩu lớn trên thế giới.
Thiên Long đang chuẩn bị để tấn công thị trường châu Âu, mà chủ yếu là Đức và Anh vào cuối năm nay. Châu Âu có nhiều tập đoàn lớn với hệ thống phân phối rộng khắp toàn cầu. “Vào được châu Âu là có được cả thế giới”, ông Nghĩa nhận xét.
Các nước châu Âu cũng nhập khẩu ngày càng nhiều hơn các loại văn phòng phẩm. Theo báo cáo nghiên cứu thị trường văn phòng phẩm châu Âu năm 2010 của Trung tâm Xúc tiến Nhập khẩu (CBI) từ các quốc gia đang phát triển thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan, tỉ trọng nhập khẩu từ các nước đang phát triển đã tăng từ mức 10,4% năm 2004 lên mức 20,1% vào năm 2008.
Cuộc tấn công vào châu Âu còn là cuộc chiến khốc liệt nhất vì phải cạnh tranh ở một thị trường già cỗi. Theo CBI, tăng trưởng ngành văn phòng phẩm trung bình giai đoạn 2004-2007 chỉ đạt mức 1,5%, trong khi trên thế giới là 4% và châu Á, 5%. Do đó, thách thức của Thiên Long cũng sẽ không nhỏ.
Sớm biết được điều này nên ông Nghĩa đã có toan tính riêng. Trước đây, Thiên Long sử dụng cách truyền thống để thâm nhập thị trường nước ngoài: giá thấp, chấp nhận đầu tư xây dựng hệ thống với mục tiêu “bán huề vốn là mừng”.
Sau khi có chỗ đứng nhất định, mới bắt đầu nâng giá bán để gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, khi thương hiệu Thiên Long đã có chỗ đứng trên thị trường quốc tế thì khi vào thị trường châu Âu, theo ông Nghĩa, Thiên Long sẽ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm và bán đúng giá.
Kênh bán hàng cũng thay đổi. Trước đây doanh nghiệp này thâm nhập thị trường nước ngoài bằng kênh truyền thống (qua nhà phân phối, đại lý) là chính, nhưng sắp tới ông Nghĩa cho biết sẽ sử dụng kênh hiện đại (thông qua siêu thị và nhà sách).
Văn phòng phẩm là một lĩnh vực rất rộng và Thiên Long mới chỉ tham gia với một nhóm sản phẩm đặc thù. Vì vậy, cơ hội tăng trưởng cho tập đoàn này còn rất lớn nếu họ tiếp tục con đường kinh doanh cốt lõi, cẩn trọng và sáng tạo như cách ông Nghĩa đã thực hiện từ trước đến nay.

Chia sẻ tin mở cửa lớn vào siêu thị Mỹ

Ông Mark Gillin, Chủ tịch của Amcham, cho rằng, TPP đang tạo một dòng dịch chuyển đơn hàng cũng như đầu tư sang các nước thành viên TPP. Trong thời gian gần đây, nhiều khách hàng Mỹ đang rời Trung Quốc vì nhiều lý do và đang tìm đến các nước Đông Nam Á để mua hàng. Do đó, các công ty Việt Nam phải tận dụng cơ hội để thu hút được những khách hàng này.
Walmart, Knoger gõ cửa
 
Hiện tại, vòng đàm phán thứ 18 của TPP đang diễn ra tại Malaysia (ngày 14-25/7) và dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm nay. TPP được kỳ vọng là sẽ tạo ra chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu, trong đó, Việt Nam được đánh giá là nước hưởng lợi nhiều nhất. Đối với Việt Nam, lợi thế về thuế quan rất quan trọng trong việc xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là ở thị trường Mỹ.
Đây là một thị trường tiêu dùng lớn của thế giới, nơi hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa đến từ nhiều nước khác, trong đó có những đối tác đã được các nước này cho hưởng ưu đãi thuế quan.
Ông Fred Burke, Đại diện Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham Vietnam), cho rằng, hai trong số các lợi thế của Việt Nam trong thương mại với Mỹ là xuất khẩu nông sản và may mặc. Hiện tại, mặt hàng thủy sản đóng hộp nhập khẩu vào Mỹ đang chịu mức thuế suất là 28% nhưng khi có TPP thì chỉ còn 0%.
Không chỉ thế, theo tính toán của các chuyên gia, mức tăng xuất khẩu của Việt Nam sau khi vào TPP có thể lên đến 34%. Mặt khác, Mỹ có thể dành ra ba năm để giúp Việt nam xây dựng chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu cho ngành dệt may.
Như vậy, Việt Nam có thể giải quyết khó khăn về xuất xứ hàng hóa vì 40% nguyên liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc, nước không tham gia vào TPP. Bên cạnh đó, doanh nghiệp (DN) Việt Nam còn có thể thông qua các đối tác Mỹ như Walmart, Lowes, Kroger..., vốn đã xây dựng hệ thống chuỗi cung ứng toàn cầu, để đưa hàng hóa đi khắp thế giới.
34%
Năm tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt 8,846 tỷ USD, tăng 1,276 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2012. Không chỉ lớn về kim ngạch mà lượng hàng hóa xuất khẩu vào nền kinh tế lớn nhất thế giới này cũng rất phong phú về chủng loại nông lâm thủy sản đến hàng dệt may, da giày, hàng công nghệ cao như điện thoại, máy tính hay vật liệu xây dựng... Theo tính toán của các chuyên gia, mức tăng xuất khẩu của Việt Nam sau khi vào TPP có thể lên đến 34%.
Thông tin từ các chuyên gia, hiện tại, nhà bán lẻ số 1 thế giới Walmart đã có giấy phép mua hàng từ Việt Nam.
Những ngày vừa qua, không chỉ tiếp xúc với các DN của AmCham, Walmart còn gặp gỡ các hiệp hội DN trong nước "đánh tiếng" tìm đối tác để mua hàng bán vào hệ thống phân phối của họ.
Trước Walmart, tập đoàn bán lẻ lớn thứ hai tại Mỹ Kroger và Siêu thị nông sản Luckys Farmers Market (Mỹ) cũng đã đến Việt Nam tìm nhà cung ứng.
Thật ra, từ nhiều năm nay, Kroger đã mua hàng của Việt Nam nhưng thông qua trung gian và lần này họ muốn làm việc trực tiếp với các DN Việt Nam.
Ông Tim Kelbel, Phó chủ tịch Phụ trách nhãn hiệu DN và nguồn cung toàn cầu của Kroger, cho biết, dự kiến, mỗi năm, tập đoàn này sẽ nhập khẩu khoảng 5 - 6 tỷ USD, trong đó, 4 - 5% sẽ mua từ VN. Hiện Kroger đang mua cà phê Việt Nam với kim ngạch đạt khoảng 50 triệu USD mỗi năm.
Trong chuyến đến Việt Nam mới đây, ông Jason Brown, Tổng giám đốc Phát triển thị trường của Siêu thị nông sản Luckys Farmers Market, cho biết, đơn vị này đang thực hiện dự án mở rộng các siêu thị mới, tập trung vào miền Trung của Mỹ nên đang cần nhiều nguồn hàng từ nhiều nước.
Chuẩn bị tiêu chuẩn để vào Mỹ
Ông Mark Gillin, Chủ tịch của Amcham, cho rằng, TPP đang tạo một dòng dịch chuyển đơn hàng cũng như đầu tư sang các nước thành viên TPP. Trong thời gian gần đây, nhiều khách hàng Mỹ đang rời Trung Quốc vì nhiều lý do và đang tìm đến các nước Đông Nam Á để mua hàng. Do đó, các công ty Việt Nam phải tận dụng cơ hội để thu hút được những khách hàng này.
Nhiều chuyên gia cho rằng, tại Mỹ, kênh mua sắm phổ biến nhất là hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi. Vì thế, vào được kênh bán hàng hiện đại này coi như DN Việt Nam đã thành công. Trong đó, trở thành nhà cung ứng cho Kroger, DN Việt Nam sẽ có cơ hội bán hàng tại 31 bang của Mỹ.
Bởi hiện nay, Kroger có hơn 2.400 siêu thị và cửa hàng lớn ở 31 bang của Mỹ. Ngoài ra, tập đoàn này còn có 786 cửa hàng tiện lợi, 328 cửa hàng bán đồ trang sức, đá quý, 37 nhà máy chế biến thực phẩm tại Mỹ. Còn một khi đã trở thành đối tác của Walmart thì cơ hội mở ra nhiều hơn nữa cho DN Việt Nam.
Các thống kê cho thấy, hằng tuần, hơn 200 triệu người mua sắm ở Walmart và mỗi năm, 93% hộ gia đình Mỹ mua hàng ở Walmart ít nhất một lần. Hơn nữa, Walmart có hơn 10.000 cửa hàng bán lẻ dưới 69 biển hiệu khác nhau ở 27 nước trên thế giới. Vì thế, vào được Walmart, hàng hóa của DN Việt Nam không chỉ bán ở Mỹ mà còn được phân phối ở 26 nước khác.
Cơ hội đang mở ra cho các DN Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ nhưng muốn tận dụng được cơ hội này thì phải tạo mối quan hệ trực tiếp với các DN mua hàng. Ông Herb Cochran, Giám đốc Điều hành AmCham tại TP.HCM, cho biết, các DN lớn của Mỹ (Walmart, Kroger, Lowe...) đều có quy trình chi tiết để quản lý quan hệ với nhà cung ứng.
Trong đó, Walmart yêu cầu việc thực hiện các giao dịch hoá đơn điện tử, nhà máy phải được kiểm toán trước khi cung ứng hàng, phải có bảo hiểm... Tiêu chí của Kroger là nhà cung ứng phải có chứng nhận vê tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu được công nhận toàn cầu như HACC, Global GAP.
Ngoài ra, nhiều khách hàng Mỹ còn đòi hỏi DN Việt Nam phải có một số chứng nhận, như mã số DUNS, giúp khách hàng xác định được tính pháp lý, khả năng tài chính của nhà cung ứng... Tin mừng là mới đây, Vinamilk vừa được FDA (Cục Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ) chứng nhận được xuất hàng vào Mỹ.

Tìm hiểu về chuyện loạn quảng cáo, dân lãnh đủ

Chỉ cần vào Google và gõ từ mua bán TPCN, trong vòng chưa đầy 0,5 giây có thể tìm thấy hàng chục triệu kết quả từ rất nhiều các trang web, diễn đàn khác nhau, quảng cáo các loại sản phẩm “thượng vàng hạ cám” như: viên nang, nước uống, bột, súp, siro, trà… dành cho đủ mọi đối tượng, độ tuổi và đủ loại tác dụng khác nhau.
Các loại thực phẩm chức năng (TPCN) đang “trăm hoa đua nở” trên thị trường với hàng ngàn sản phẩm khác nhau. Từ các loại thực phẩm được quảng cáo là bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực, phòng ngừa bệnh tật cho tới vô vàn loại nước uống giảm cân, cải thiện vóc dáng, ngăn ngừa stress…
Tuy nhiên điều đáng lo ngại là rất nhiều TPCN đang được quảng cáo quá mức, với công dụng như “thần dược” khiến cho nhiều người tiêu dùng lầm tưởng và chịu cảnh “tiền mất - tật mang”.
Đánh lừa người tiêu dùng
Không ngần ngại bỏ ra gần 5 triệu đồng mua 10 hộp TPCN có tên là “Cải não hoàn đồng” để người cha đang bị tai biến não uống nhằm hồi phục cơ thể, anh Huy Long (phố Láng Hạ) đã không giấu nỗi bức xúc: “Sau khi tìm hiểu thông tin trên mạng, tôi đã quyết định mua loại TPCN trên.
Trên tờ rơi quảng cáo và người bán hàng đều nói, đây là loại TPCN rất hiệu quả cho người già bị tai biến mạch máu não, chỉ cần sử dụng đều đặn trong khoảng nửa tháng là tình trạng sức khỏe của người bệnh có tiến triển rất tốt, bệnh tật giảm dần.
Tuy nhiên thực tế lại không như những gì mà người ta đã quảng cáo. Sau gần tháng trời, bố tôi uống hết 7-8 hộp TPCN mà bệnh tình chẳng thay đổi, ông cụ vẫn liệt nửa người và phải nằm một chỗ…”.
Thực tế, trường hợp của anh Long chỉ là một trong số vô vàn nạn nhân bị đánh lừa bởi những thông tin quảng cáo “nổ” tung trời của nhiều loại TPCN.
Chỉ cần vào Google và gõ từ mua bán TPCN, trong vòng chưa đầy 0,5 giây có thể tìm thấy hàng chục triệu kết quả từ rất nhiều các trang web, diễn đàn khác nhau, quảng cáo các loại sản phẩm “thượng vàng hạ cám” như: viên nang, nước uống, bột, súp, siro, trà… dành cho đủ mọi đối tượng, độ tuổi và đủ loại tác dụng khác nhau.
Mặc dù chỉ là TPCN nhưng các sản phẩm này được không ít nhà sản xuất, phân phối đua nhau quảng cáo trên mạng, trên báo chí, truyền hình và thổi phồng tác dụng lên quá mức, như là một loại “thần dược” có khả năng khắc chế đối với các bệnh nan y từ ung thư, tai biến não cho tới viêm gan, HIV...
Có nhiều loại TPCN được quảng cáo có công dụng kỳ diệu giúp chị em luôn phơi phới sắc xuân, hay các quý ông nhanh chóng tìm lại được “bản lĩnh” đàn ông.
Chính việc quảng cáo quá mức và tần suất xuất hiện liên tục, cũng như sự lập lờ tên gọi, bao bì sản phẩm giữa TPCN và thuốc chữa bệnh đã tác động không nhỏ tới ý thức của người tiêu dùng khiến nhiều người hiểu lầm, sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để mua TPCN sử dụng thường xuyên.
Khảo sát của Hiệp hội TPCN cho thấy, tại Hà Nội và TPHCM đã có trên 50% số người lớn sử dụng TPCN, trong đó rất nhiều người quan niệm dùng TPCN như thuốc chữa bệnh và thuốc bổ.
Tiền mất tật mang
Rõ ràng, việc nhiều doanh nghiệp, nhà phân phối “nổ” tung trời công dụng của nhiều sản phẩm TPCN đang khiến cho không ít người tiêu dùng bị lừa, rơi vào cảnh tiền mất mà tật vẫn mang.
Nhiều bác sĩ tại Bệnh viện K cho biết, bệnh viện đã phải tiếp nhận khá nhiều trường hợp bệnh nhân bị ung thư tới khám ở thời kỳ cuối, khi khối u đã lớn và di căn nhiều nơi trong cơ thể.
Hỏi thì nhiều người cho biết phát hiện bệnh sớm nhưng không vào bệnh viện điều trị ngay mà lao vào sử dụng TPCN với kỳ vọng rằng các loại TPCN này có thể loại trừ, ngăn chặn được sự phát triển của khối u.
Thậm chí, có người bệnh đang điều trị bệnh bằng thuốc tại bệnh viện nhưng khi nghe những quảng cáo “có cánh” đã bỏ thuốc quay sang dùng TPCN, làm mất đi cơ hội điều trị.
Tại Trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai thường xuyên phải tiếp nhận điều trị bệnh nhân bị dị ứng TPCN do sử dụng tràn lan, thiếu sự chỉ dẫn cần thiết của thầy thuốc.
PGS-TS Trần Đáng, Chủ tịch Hiệp hội TPCN Việt Nam cho biết, TPCN không phải là thuốc nên không có tác dụng chữa bệnh mà chỉ hỗ trợ điều trị bệnh. Người bệnh cũng cần biết rằng việc điều trị và hỗ trợ điều trị là hoàn toàn khác nhau.
Sản phẩm TPCN nào quảng cáo để dùng trị bệnh là hoàn toàn sai và người tiêu dùng phải rất cảnh giác. Hơn nữa, người tiêu dùng trước khi sử dụng TPCN cần được tư vấn bởi các nhà chuyên môn, thầy thuốc, bác sĩ.
Bởi lẽ cho dù là TPCN có nguồn gốc thực vật, hay động vật nhưng cũng có tác dụng phụ, có khoảng 1% người dùng TPCN gặp phản ứng do cơ địa cơ thể.
Bất cập quản lý
Theo đánh giá của cơ quan quản lý, trong những năm gần đây thị trường TPCN ở nước ta có sự bùng nổ. Nếu như cách đây khoảng 10 năm, cả nước có chưa đầy 50 doanh nghiệp nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh TPCN thì nay khoảng 2.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh với hơn 5.500 sản phẩm TPCN đang lưu hành.
Cùng với đó là rất nhiều loại TPCN chưa được cấp phép nhưng được nhập lậu, xách tay từ nước ngoài về và bán tràn lan trên mạng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường TPCN là tình trạng bát nháo về chất lượng, hỗn loạn về giá cả và nội dung quảng cáo của nhiều loại TPCN khiến cơ quan chức năng khó quản lý và kiểm soát.
Mới đây nhất, Cục An toàn thực phẩm đã quyết định xử phạt hành chính đối với 9 doanh nghiệp và nhà thuốc vi phạm về quảng cáo TPCN. Trong đó đáng chú ý là việc Công ty XNK TM Thiên Nam Dược quảng cáo sản phẩm TPCN Kháng Lạc Cao có nội dung liên quan đến người cai nghiện ma túy.
Còn trước đó, Cục An toàn thực phẩm cũng đã quyết định thu hồi giấy chứng nhận tiêu chuẩn cấp cho sản phẩm “Hương cảng Canh Công Phu” vì sản phẩm này không chỉ chứa hoạt chất có thể gây tác dụng không mong muốn cho nam giới, mà còn thổi phồng các chức năng, công dụng như: kích thích bộ phận sinh dục nam tiếp tục phát triển, cải thiện rõ rệt chứng bệnh liệt dương.
Thực tế số sản phẩm TPCN, cũng như doanh nghiệp bị phát hiện, đình chỉ và xử lý vẫn còn rất khiêm tốn. Ông Nguyễn Thanh Phong, Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm thẳng thắn cho biết, mỗi năm, có khoảng 1.000 hồ sơ đăng ký nội dung quảng cáo TPCN nhưng có tới 90% số hồ sơ có vấn đề và bị yêu cầu chỉnh sửa nội dung quảng cáo phải đúng như tác dụng của sản phẩm. Tất cả quảng cáo TPCN chữa khỏi bệnh này hay bệnh kia đều là không chính xác.
Theo quy định việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm TPCN không đúng sự thật sẽ xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép và sản phẩm, nhưng vì mức lợi nhuận rất lớn nên nhiều đơn vị, cá nhân vẫn cố tình phớt lờ, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Chia sẻ cùng bạn vấn đề công nghiệp công nghệ cao Việt Nam: Giai đoạn "100% vốn nước ngoài"

Ông Thân Trọng Phúc gợi ý, ở thời điểm này, Việt Nam nên tập trung phát triển chuỗi cung ứng để lôi kéo được nhà đầu tư có tên tuổi. Chẳng hạn, với điện thoại Samsung, hầu hết họ phải nhập khẩu các linh phụ kiện vào nhà máy tại Việt Nam, trong khi có những phụ kiện, doanh nghiệpViệt Nam vẫn có thể cung ứng được như: vỏ điện thoại, các bo mạch...
Sony rút, Samsung vào
Trong khi Sony, Toshiba rút khỏi Việt Nam thì Samsung hay LG lại có những đầu tư lớn cho các nhà máy tại thị trường này.
Rút "chiến thuật"
Đầu tháng 7/2013, những thông tin về việc Tập đoàn Samsung Electronics sẽ bỏ ra 96 tỷ đồng để mua lại 20% cổ phần của Công ty CP TIE (TIE), đối tác Việt Nam trong Công ty Liên doanh TNHH Điện tử Samsung Vina, biến Samsung Vina thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bắt đầu lan đi.
Samsung Vina nhận giấy phép đầu tư từ năm 1995, khánh thành nhà máy vào tháng 9/1996, với tổng vốn đầu tư hơn 36,5 triệu USD và đây là liên doanh đầu tiên của Samsung tại Việt Nam. Khi đó, Samsung bắt tay với TIE để sản xuất hàng điện tử tiêu dùng như tivi, màn hình máy tính.
Thế nhưng, sau hơn 17 năm gắn bó, liên doanh này cũng "chia tay", dù có muộn hơn so với LG Electronics (Hàn Quốc), Sony Electronics (Nhật Bản)... Ngày 4/7, TIE thông báo sẽ chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp tại Công ty TNHH Điện tử Samsung Vina cho Samsung Electronics của Hàn Quốc.
Thương vụ trị giá hơn 96 tỷ đồng, cao hơn giá trị sổ sách của phần vốn góp khoảng 30%. Sau khi chuyển nhượng thành công, Samsung Vina sẽ thành doanh nghiệp 100% vốn Hàn Quốc.
Đây là kết cục có thể dự đoán khi Việt Nam gia nhập WTO. Cụ thể, kể từ năm 2009, các công ty FDI có thể thực hiện quyền sản xuất lẫn phân phối trực tiếp tại Việt Nam. Hơn nữa, theo lộ trình gia nhập FTA, từ năm 2015, nhiều dòng thuế sẽ cắt giảm xuống còn 0%, đây là điều kiện thuận lợi cho các hãng điện tử cắt giảm chi phí sản xuất thông qua hình thức nhập khẩu hàng hóa và phân phối.
Trước Samsung, các hãng điện tử của Nhật cũng đã có cuộc "rút lui" khỏi các cơ sở liên doanh sản xuất tại Việt Nam. Năm 2008, Sony tuyên bố dừng hoạt động nhà máy sản xuất tivi bóng đèn hình tại Việt Nam sau 14 năm tồn tại. Song, mãi đến năm 2012, Sony mới hoàn tất các thủ tục rút khỏi liên doanh với Công ty CP Viettronics Tân Bình.
Đến thời điểm này, Sony Việt Nam đã chuyển hẳn sang pháp nhân thương mại, tập trung vào việc nhập khẩu hàng nguyên chiếc, mở rộng và phát triển hệ thống phân phối, bán hàng tại thị trường Việt Nam.
Trong khi đó, một tên tuổi khác đến từ Nhật Bản là Toshiba cũng đã chấm dứt hợp đồng liên doanh với Công ty Vietronics Thủ Đức vào năm 2006 sau 10 năm đặt chân vào Việt Nam để thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.
Trước động thái của các hãng điện tử ngoại đã có không ít những suy luận cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài đang tự "cởi trói" khi những ràng buộc không còn hiệu lực. Thậm chí, người ta không loại trừ khả năng, sau hơn một thập niên ồ ạt thu hút doanh nghiệp ngoại trong lĩnh vực công nghệ điện tử, Việt Nam sẽ không còn là lựa chọn trong bản đồ sản xuất công nghệ của thế giới.
Vào "chiến lược"
Với những diễn biến trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ba năm trở lại đây đã chứng minh chuyện các hãng ngoại rút mảng sản xuất tại Việt Nam không đơn thuần nằm ở nguyên nhân mở đường cho hoạt động thương mại mà còn xuất phát từ chiến lược chung của tập đoàn.
Điển hình, thời điểm 2008, mảng tivi bóng đèn hình của Sony đã không kịp trở tay trước những đối thủ lớn như Samsung với tivi màn hình phẳng. Không chỉ ở Việt Nam, hầu hết các nhà máy sản xuất tivi của hãng này trên thế giới đều đóng cửa. Hiện, Sony tập trung cho lĩnh vực máy ảnh, smartphone thay vì tivi như trước.
Trong khi đó, song song với hoạt động thương mại, sau khi thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, Toshiba cũng tiến hành sản xuất nhưng ở một lĩnh vực khác. Ông Kunio Nakajima, Tổng giám đốc Công ty Sản phẩm tiêu dùng Toshiba Việt Nam, cho biết, Toshiba cũng đã đầu tư mở nhà máy công nghệ cao, một trong số đó là xưởng lắp ráp xe máy Motor Factory ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Nói về chiến lược mở rộng đầu tư, đại diện Toshiba nhấn mạnh, trước mắt, Tập đoàn chưa có kế hoạch cụ thể, nhưng có thể Toshiba sẽ cân nhắc trong thời gian sắp tới.
Hay trường hợp của Samsung, với những đầu tư trong thời gian qua cho thấy, hãng điện tử Hàn Quốc đang tập trung sản xuất điện thoại. Cụ thể, LG đang khảo sát để đầu tư một tổ hợp sản xuất các sản phẩm điện tử và điện lạnh gia dụng.
Điều đó đồng nghĩa với việc thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam đang có sự chuyển hướng rõ nét và bước đầu định hình chiến lược của các tập đoàn công nghệ trong kỷ nguyên mới.
Liên quan đến vấn đề trên, ông Thân Trọng Phúc, Giám đốc Điều hành Quỹ DFJ VinaCapital, thuộc Tập đoàn VinaCapital, cựu Tổng giám đốc Intel Việt Nam, phân tích, trong lĩnh vực công nghệ, các công ty sản xuất dù là phần cứng hay phần mềm đều mong muốn tìm các giải pháp để cắt giảm chi phí một cách đáng kể.
Do đó, khi đã quyết định xây dựng nhà máy, họ sẽ làm với quy mô lớn để giảm chi phí vận hành. Điển hình như Intel, Samsung, Nokia và Canon. Còn các công ty rút mảng sản xuất tại Việt Nam là do họ đã có những nhà máy ở một số quốc gia khác như Thái Lan hay Trung Quốc... đủ để đáp ứng nhu cầu của họ.
Trên cơ sở này, có thể thấy, Samsung đang đặt trọng tâm vào thị trường Việt Nam với ba nhà máy đang hoạt động. Tờ Korean Times cũng từng đề cập, Samsung đặt kế hoạch đầu tư 2,2 tỷ USD vào Việt Nam từ đây đến năm 2020, trong đó, điện thoại di động sản xuất tại Việt Nam sẽ chiếm 50% lượng điện thoại của Hãng trên toàn cầu.
Trong khi đó, Intel sẽ đầu tư 1 tỷ USD vào thị trường Việt Nam, đến nay, nhà máy của họ đặt tại Khu Công nghệ cao TP.HCM đã giải ngân trên 300 triệu USD. Với mức độ giải ngân này, nhiều ý kiến hoài nghi về khả năng "đi hết con đường" của Intel.
Tuy nhiên, theo quan điểm của ông Thân Trọng Phúc, lý do đề Intel chưa tiếp đầu tư tại Việt Nam là do ảnh hưởng từ thị trường toàn cầu. Sự phát triển của Intel tại Việt Nam tùy thuộc vào sản phẩm con chip trong điện thoại di động, máy tính bảng...
Hiện nay, khoảng 98% smartphone trên thế giới đều sử dụng chip của ARM (công ty máy tính Acorn, có trụ sở tại Cambridge, Anh). Trong đó, các hãng sản xuất điện thoại lớn như: Apple, HTC, Samsung, Nokia... đều sử dụng các thiết kế chip từ ARM. Song, gần đây, Intel đã đạt được hai mục tiêu trong chip Atom là vừa mạnh vừa ít tốn pin.
"Theo dự đoán của tôi, trong vòng 6 - 7 tháng tới, nhiều công ty sẽ chuyển sang sử dụng chip của Intel và trong hai năm tới sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa Intel và ARM. Khi đó, tỷ lệ chip Intel được sử dụng trên toàn cầu có thể đạt 20%. Với nhu cầu như thế, nhà máy của Intel tại Việt Nam sẽ tăng năng lực sản xuất và chuyện họ giải ngân toàn bộ 1 tỷ USD là chuyện sớm hay muộn", ông Phúc nhìn nhận.
Theo ông Robin Martin, Phó chủ tịch cấp cao phụ trách công nghệ và sản xuất của Tập đoàn Intel (Costa rica, Trung Quốc, Malaysia và Việt Nam), Nhà máy Intel Việt Nam đang vận hành tốt, ban đầu tập trung vào sản phẩm chipset cho thị trường của Intel trên toàn thế giới, nhưng Intel cũng đang chuẩn bị sản xuất mạch tích hợp (SoC) tại đây.
Bản đồ công nghệ Việt Nam đã hình thành
Hầu hết các tên tuổi trong lĩnh vực công nghệ cao xuất hiện trong Top 500 công ty hàng đầu (xét theo doanh thu) của Tạp chí Fortune đều đã có mặt tại Việt Nam.
Cũng theo phân tích của ông Thân Trọng Phúc, việc thu hút FDI trong lĩnh vực công nghệ của Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng. Theo đó, xét tương quan giữa các quốc gia trong khu vực (ngoài Trung Quốc), bên cạnh Malaysia, Việt Nam là thị trường thu hút nhiều công ty sản xuất điện tử, công nghệ nhất.
Hầu hết các tên tuổi trong lĩnh vực công nghệ xuất hiện trong Top 500 công ty hàng đầu (xét theo doanh thu) của Tạp chí Fortune đều đã có mặt tại Việt Nam. Với ngành công nghiệp điển tử, Thái Lan không bằng Việt Nam vì chi phí sản xuất quá cao (đối với ô tô, giá trị vài nghìn USD thì họ có thể chấp nhận chi phí cao, trong khi sản phẩm công nghệ chỉ vài trăm USD thì rất khó gánh chi phí cao).
12,64 tỷ USD

Xuất khẩu điện thoại và linh phụ kiện của Việt Nam đạt 12,64 tỷ USD trong năm 2012, tăng 97,7% so với năm 2011; trong đó, Samsung chiếm 98%. Việt Nam đang đặt mục tiêu xuất khẩu trong lĩnh vực điện tử (điện thoại, linh phụ kiện, máy tính...) lên 40 tỷ USD vào năm 2017, tăng gần gấp đôi so với 20 tỷ USD trong năm 2012.
Malaysia thì đứng đầu nhưng nay chi phí cũng đã lên cao. Còn với Philippines, ngay như Intel, có thời gian 30 năm đầu tư vào đây nhưng cuối cùng phải rút khỏi thị trường này, dù chuỗi cung ứng của Philippines nhiều hơn Việt Nam. Lý do vì Chính phủ Philippines không có chiến lược hỗ trợ ngành rõ ràng.
Trong khi đó, Indonesia thì vị trí quá xa so với Trung Quốc và Malaysia nên sẽ không thuận lợi để đưa linh kiện xuống. Ngoài ra, nhà đầu tư cũng e ngại một số vấn đề khác khi đầu tư vào Indonesia, điển hình như tình trạng động đất.
Do đó, có thể nhận thấy, ngành công nghiệp công nghệ cao của Việt Nam đang đứng ở thế Trung Quốc + 1 (China plus). Song, đây là "dấu cộng mờ", để trở thành "dấu cộng đậm" thì Chính phủ Việt Nam phải có động thái rõ ràng đặc biệt là vấn đề nguồn nhân lực, sau đó mới là hạ tầng.
Dù có nhiều tiềm năng nhưng bài toán của ngành công nghiệp công nghệ cao cũng còn khá loay hoay như công nghiệp xe hơi ngày nào: Việt Nam nên sản xuất nguyên chiếc hay chỉ tham gia vào một mắc xích trong toàn bộ chuỗi cung ứng của ngành?
Bà Nguyễn Thị Như Phương, Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), cho biết, ngành điện tử có kim ngạch xuất khẩu đứng trong tốp 10 ngành hàng xuất khẩu lớn nhất nước năm 2010, năm 2011 đã xuất khẩu chủ yếu là linh kiện điện tử - máy tính, máy in, điện thoại di động, chip điện tử...
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam còn rất khiêm tốn so với các nước trong khu vực, nhưng với mức xuất khẩu tăng trưởng khá nhanh do thu hút được các dự án rất lớn từ vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Việt Nam đã được đánh giá là điểm đến tin cậy cho các nhà đầu tư. Song, về chiến lược, Việt Nam nên đi theo hướng nào? Chỉ đơn thuần là "công xưởng lắp ráp" của các hãng, là nơi gia công phần mềm, sản xuất các linh kiện cung ứng cho công nghiệp công nghệ cao hay xây dựng nền công nghiệp vi mạch, bán dẫn?
Ông Thân Trọng Phúc gợi ý, ở thời điểm này, Việt Nam nên tập trung phát triển chuỗi cung ứng để lôi kéo được nhà đầu tư có tên tuổi. Chẳng hạn, với điện thoại Samsung, hầu hết họ phải nhập khẩu các linh phụ kiện vào nhà máy tại Việt Nam, trong khi có những phụ kiện, doanh nghiệpViệt Nam vẫn có thể cung ứng được như: vỏ điện thoại, các bo mạch...
Dù hiện đã có một số doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng này nhưng quy mô còn khá nhỏ. Liên quan đến Samsung, ông Shim Won Hwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung Electronics Việt Nam (SEV) đang hoạt động tại Khu công nghiệp Yên Phong (Bắc Ninh) từng chia sẻ với báo giới, SEV hiện có 60 đối tác cung ứng linh phụ kiện như đa phần là đối tác nước ngoài vì họ đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật của Samsung trên toàn cầu.
Còn về việc sản xuất vi mạch, bán dẫn hay chip thì đòi hỏi chi phí lớn và có nguồn nhân lực tay nghề cao nên sẽ rất khó nếu Việt Nam đi theo hướng phát triển này.
Nếu Việt Nam tận dụng được chi phí nhân công thì chuỗi cung ứng là con đường ngắn nhất để đạt đến mục tiêu trở thành điểm đến của các công ty công nghệ toàn cầu. Khi đó, lao động của Việt Nam sẽ có thêm nhiều việc làm và cải thiện thu nhập và chắc chắn, GDP của Việt Nam sẽ tăng.
Ông Thân Trọng Phúc, Giám đốc Điều hành Quỹ DFJ VinaCapital, thuộc Tập đoàn VinaCapital: Việt Nam cần có đội ngũ kỹ sư giỏi
Các công ty công nghệ thường đi theo ba bước. Trước hết, họ sẽ đặt nhà máy sản xuất để tận dụng chi phí lao động. Chi phí này khá quan trọng và tùy thuộc vào thiết bị sản xuất mà nó thường chiếm từ 15 - 40%/tổng chi phí sản xuất của các công ty. Thông thường, trong vòng 5 năm đầu đặt cơ sở sản xuất, các công ty sẽ tận dụng được lợi thế này.
Sau đó, chi phí sản xuất tăng thì họ sẽ tận dụng nguồn nhân lực tại đây đề làm một số công việc khác. Đây là quá trình mà những quốc gia thu hút công nghệ cao như Trung Quốc hay Malaysia đã trải qua.
Điển hình cho trường hợp này như Intel. Intel đã vào Malaysia được 30 năm, đến thời điểm hiện nay, cơ sở sản xuất của Intel tại quốc gia này chủ yếu làm về thiết kế phần cứng, chế tạo một vài loại chip, bo mạch với điều kiện quốc gia đó có nguồn nhân lực dồi dào.
Kế đến, như các công ty như Intel, Samsung, Canon đang triển khai tại thị trường Việt Nam là thiết lập chuỗi cung ứng để tăng lỷ lệ nội địa hóa. Ở giai đoạn này, các công ty Việt Nam ngày càng có cơ hội được đào tạo để tham gia vào chuỗi cung ứng, thiết kế sản phẩm. Giai đoạn 3 là các công ty sẽ làm về thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D). Để thực hiện quy trình này, Việt Nam cần có đội ngũ kỹ sư giỏi.
Bà Nguyễn My Lan, Tổng giám đốc GE Việt Nam: Cần thêm 200 kỹ sư cho Trung tâm thiết kế tại TP.HCM
Trung tâm thiết kế kỹ thuật (TTTKKT) của GE được công bố thành lập vào cuối năm 2012 nhằm phục vụ cho việc thiết kế sản phẩm, phát triển các ứng dụng và dịch vụ thích hợp cho ngành dầu khí. Đây là một trung tâm kỹ thuật cao của GE với mong muốn mang đến các công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến nhất của GE vào Việt Nam.
Trung tâm này sẽ phục vụ cho các nhu cầu phát triển trong ngành công nghiệp dầu khí tại Việt Nam và trong khu vực. Hiện tại, TTTKKT của GE đã tuyển dụng được 28 kỹ sư trên chỉ tiêu 40 kỹ sư cho năm nay và họ đã bắt đầu tham gia những khóa đào tạo như phát triển chuyên môn kỹ thuật, đào tạo các kỹ năng mềm cũng như kỹ năng quản lý.
Theo kế hoạch, trong những năm tới, GE mong muốn sẽ tuyển dụng được khoảng 200 kỹ sư cho trung tâm này. Kể từ khi đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất các linh kiện tuabin gió tại Hải Phòng vào năm 2010 với số vốn ban đầu là 60 triệu USD, đến nay chúng tôi đã đầu tư mở rộng sản xuất lên tới con số 130 triệu USD.
Chúng tôi vẫn đang trong giai đoạn lập kế hoạch triển khai đầu tư mở rộng nhà máy tại Hải Phòng giai đoạn 2, dự kiến tiếp tục mở rộng danh mục sản xuất các linh kiện cho tuabin gió và một số danh mục mới khác trong ngành dầu khí.
Bà Sherry Boger, Tổng giám đốc nhà máy Intel Products Vietnam: Việt Nam có nhiều lợi thế trong khối ASEAN
Hiện nay nhà máy đang hoạt động theo đúng tiến độ và yêu cầu của Tập đoàn đã đề ra cho Việt Nam. Nhà máy đã tuyển dụng hơn 1.000 nhân viên và có khả năng đáp ứng gần 50% đơn hàng sản xuất chipset của cả hệ thống các nhà máy lắp ráp và kiểm định chip trên toàn cầu (hiện nay Intel còn tổng cộng 4 nhà máy ATM).
Tính đến cuối năm 2012, nhà máy Intel đã góp vào doanh số xuất khẩu chung của VN là 1,7 tỷ USD. Nếu so sánh ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam với các nước trong khu vực, tôi cho rằng Việt Nam vẫn có nhiều lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào cũng như vị trí quan trọng trong khối ASEAN.
Việt Nam cần tập trung vào các lợi thế của mình để thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ và phát triển các ưu thế và giá trị cộng thêm, các đề xuất chung cho Việt Nam gồm: tiếp tục đầu tư vào xây dựng hạ tầng cơ sở (điện, giao thông, sân bay...);
Đẩy mạnh việc xây dựng các chính sách hấp dẫn nhằm thu hút các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng nội địa; hoàn thiện xây dựng các chính sách công theo hướng hội nhập quốc tế và áp dụng qui trình thực hiện theo hướng nhanh gọn, minh bạch, tiết kiệm;
Tiếp tục đầu tư vào nguồn nhân lực trẻ theo nhu cầu xã hội, cần tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực đào tạo kỹ thuật, tăng tỷ lệ bình đẳng giới trong lĩnh vực kỹ thuật cũng như thực hành ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác.

Chia sẻ cùng bạn về bánh Việt Nam chen chân tìm chỗ đứng

Bà Nguyễn Thị Khánh, Phó chủ tịch hiệp hội Du lịch TP.HCM đã đặt hàng ABC cùng với hội Đầu bếp chuyên nghiệp Sài Gòn nghiên cứu nâng cấp hương vị cũng như hình ảnh các loại bánh truyền thống Việt Nam, để ngành du lịch có sản phẩm giới thiệu cho du khách nước ngoài thưởng thức và làm quà tặng.
Bánh Việt Nam là tên mà ông Kao Siêu Lực, tổng giám đốc doanh nghiệp tư nhân bánh kẹo Á Châu (ABC) đặt cho dòng sản phẩm mới của mình ra mắt người tiêu dùng chính thức từ tháng 7/2013. Không phải không tìm được một tên riêng cho dòng bánh mới, nhưng gọi “bánh Việt Nam” vì ông Lực muốn khẳng định đây là bánh của người Việt Nam làm từ công thức của chính người Việt Nam phát kiến.
Dây chuyền sản xuất bánh của ABC
Ngày 16/7/2013, ABC đã giới thiệu mười sản phẩm mới trong dòng “bánh Việt Nam”. Ông Kao Siêu Lực hứa sẽ cho ra đời 15 sản phẩm nữa cho nhãn hiệu bánh mới này. Người tiêu dùng đã quen thuộc với bánh ABC thấy mỗi năm ABC đều có bánh mới, nhưng đây là lần đầu tiên, ông Lực chia sẻ thông tin về sản phẩm mới.
Khẳng định trình độ làm bánh
Ông tâm sự, sau khi nghiên cứu thành công phương pháp mới lên men và ủ bánh, ông đã vội vàng chia sẻ niềm vui của mình cho các đồng nghiệp và được những nhà làm bánh chuyên nghiệp thế giới công nhận về chất lượng bánh từ phương pháp mới ấy.
Những cộng sự của ông ở ABC “lên tiếng” rằng phải ưu tiên giới thiệu công thức, phương pháp làm bánh mới này ở Việt Nam để người Việt Nam biết.
Qua một lúc giật mình, ông thấy mình có lỗi không chia sẻ với người tiêu dùng trong nước, và quyết định đưa dòng sản phẩm mới ra mắt và công bố sáng kiến của mình.
Ông Lực kể qua nhiều lần đi học hỏi phương pháp làm bánh mới ở Nhật, Pháp, Mỹ… và tham gia làm giám khảo ở một cuộc thi làm bánh quốc tế, ông nhận thấy những nhà làm bánh nước ngoài đã làm ra những loại bánh rất ngon bằng những phương pháp ủ bột. Mỗi lần như thế, ông đều mang những điều mới về ứng dụng vào sản xuất.
Thế nhưng, ông cũng chưa cảm thấy nó thật sự là điều ông tìm kiếm. Trong một lần vào phân xưởng làm bánh nhân táo, ông chợt cảm nhận một mùi thơm đặc biệt và nghĩ đến việc lấy táo lên men và dùng nó ủ bột để có hương vị thật khác biệt. Mang các loại táo khác nhau đi thử lên men với đường, với mật ong.
Cuối cùng, ông chọn được hương vị men ưng ý nhất từ loại táo xanh lên men với mật ong. Men này được đưa vào ủ bột từ 12 – 24 tiếng trước khi đưa bột ra làm bánh.
Miệt mài trong một năm, ông vui mừng khi những chiếc bánh mì đầu tiên ra lò từ công thức mới do ông nghiên cứu đã cho đúng hương vị mong muốn và đạt được yêu cầu bánh mềm, mịn, có độ dai không làm bánh dễ vụn; và cho dù không sử dụng thêm bất kỳ phụ gia, chất bảo quản nào nhưng bánh có thể bảo quản với thời gian lâu hơn so với bánh trước kia.
Được đồng nghiệp quốc tế công nhận và thực sự thành công khi đưa vào sản xuất với số lượng lớn, ABC nghĩ đến chuyện đặt tên cho dòng sản phẩm mới. Vì sao không tự hào đây là sản phẩm được tạo ra từ sự sáng tạo, tâm huyết của những người Việt Nam trong ABC? Các cộng sự đã nhất trí với ông Lực đặt tên “bánh Việt Nam” như một sự khẳng định trình độ kỹ thuật làm bánh của Việt Nam.
Ông Lực cho biết, ông đang tiếp tục nghiên cứu lên men nho để sử dụng ủ bột. Nho xanh đang được trồng ở Việt Nam khá nhiều, nếu thành công sẽ là một cách góp phần đưa trái cây Việt Nam vào sản phẩm.
Ông cũng đã nghiên cứu thành công việc sử dụng gạo huyết rồng làm bánh. Ông nghĩ một ngày nào đó ông sẽ tự hào công bố chiếc bánh của ABC hoàn toàn 100% Việt Nam từ nguyên liệu, men đến chất xám của người Việt Nam.
Bánh tươi Việt Nam cho nước ngoài
Chia sẻ định hướng phát triển trong tương lai của ABC, ông Lực cho biết có ba việc phải làm: thêm xưởng sản xuất mới; thêm sản phẩm mới; tăng thị trường xuất khẩu.
Hai xưởng sản xuất cung ứng cho thị trường nội địa và xuất khẩu hiện nay đã quá tải. ABC đang triển khai xưởng sản xuất mới, vốn đầu tư khoảng 4 triệu USD, dự kiến cuối năm nay sẽ đưa vào hoạt động.
Sản phẩm mới sẽ có 15 sản phẩm của dòng bánh Việt Nam cho thị trường nội địa và các loại bánh đông lạnh cho thị trường xuất khẩu. Sản phẩm bánh đông lạnh của ABC đã xuất sang Nhật, Anh, Úc. Ở Campuchia, ABC đã có năm cửa hàng bánh, dự kiến mở thêm năm cửa hàng trong hai năm tới.
Mười năm qua, ABC đã là nhà cung cấp bánh mì tròn dùng làm hamburger và bánh mì sandwich cho các cửa hàng thức ăn nhanh của nhiều thương hiệu quốc tế nổi tiếng như KFC, Lotteria, Jollibee…
Nếu như mười năm trước, số lượng bánh cung cấp cho những chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh trên chỉ chiếm 2% sản lượng, doanh thu của ABC thì nay đã chiếm đến 25%.
Bà Nguyễn Thị Khánh, Phó chủ tịch hiệp hội Du lịch TP.HCM đã đặt hàng ABC cùng với hội Đầu bếp chuyên nghiệp Sài Gòn nghiên cứu nâng cấp hương vị cũng như hình ảnh các loại bánh truyền thống Việt Nam, để ngành du lịch có sản phẩm giới thiệu cho du khách nước ngoài thưởng thức và làm quà tặng.
Giá cạnh tranh
Giá của mười sản phẩm (mười loại nhân bánh khác nhau) bánh Việt Nam mới ra mắt chỉ 10.000 – 12.000 đồng/cái. Sở dĩ có giá như vậy, theo ông Lực là do tiết kiệm được chi phí từ chính những sáng kiến của ABC, mặt khác cũng do một số thiết bị làm bánh ABC tự sáng chế.
Vốn là một thợ cơ khí trước khi vào nghề làm bánh nên ông Lực biết một số kỹ thuật chế tạo máy. Qua thời gian nhập toàn bộ máy móc thiết bị nước ngoài, ông nhận ra một số khuyết điểm của dây chuyền nhập khi đưa vào vận hành.
Ông mời một số thợ cơ khí giỏi cùng ông phân tích những khuyết điểm của thiết bị, rồi tự chế tạo ra một số loại máy phù hợp với yêu cầu sản xuất sản phẩm có độ đồng đều chính xác hơn. Những nhà làm bánh nước ngoài khi tham quan xưởng sản xuất của ABC đã thích thú với những chiếc máy này, đã đặt ABC làm cho họ.
Ông Lực không ngại chia sẻ công nghệ, kỹ thuật với đồng nghiệp nước ngoài, ABC đã làm và xuất cho những nhà làm bánh ở Đài Loan, Philippines, Singapore.
Ông Lực tâm sự có chia sẻ thì ngành làm bánh mới phát triển được. Hiện nay, thị trường Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các thương hiệu bánh tươi nước ngoài, nhưng ông tin người tiêu dùng sẽ chọn ai làm bánh có hương vị hợp khẩu vị của mình.
Đối với ngành làm bánh tươi trong nước, ABC vẫn lạc quan trong hành trình chinh phục người tiêu dùng, sẽ tiếp tục nghiên cứu từ công thức, kỹ thuật làm bánh mới, đến công nghệ, máy móc thiết bị làm bánh.
Ông nghĩ đó là những cách “khiêu chiến” cho thị trường bánh Việt Nam sôi động lên, ngành bánh tươi của Việt Nam phát triển mạnh hơn, thì không ngại sự thâm nhập của các thương hiệu nước ngoài.

Thực hư câu chuyện trâu chậm có uống nước đục?


McDonald's nổi tiếng không chỉ bởi thực đơn những món bánh kẹp và khoai tây chiên ngon tuyệt mà còn bởi điều kiện để nhượng quyền thương hiệu của họ không hề dễ dàng: Đối tác phải là hãng có tiềm lực tài chính lớn, kinh nghiệm kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, khả năng quản lý tốt. Những điều kiện trên phải đạt chất lượng cao và phải được đảm bảo gần như tuyệt đối.

KFC vào Việt Nam đã 15 năm, Lotteria được chào đón từ năm 2004. Hiện nay, thị trường fastfood (thức ăn nhanh) ở Việt Nam đã rất sôi động với những cái tên “khủng” như Al Fresco, Pizza Hut, Buger King... nhưng vào ngày 15/7, thương hiệu fastfood lớn nhất thế giới McDonald's mới công bố lộ trình tới Việt Nam.
Bước đi thận trọng của McDonald's trong suốt một năm qua khiến thị trường fastfood của Việt Nam luôn trong tâm lý chờ đợi xem liệu ông lớn này sẽ làm gì. Đến ngày 15/7, như là một sự kiện bùng nổ, hàng loạt báo lớn của nước ngoài như Thời báo Tài chính (Financial Times), Washington Post,… đưa tin McDonald's đã chính thức công bố sẽ mở cửa hàng đầu tiên của mình ở Việt Nam vào đầu năm 2014.

Lý do gì để một ông lớn như McDonald's phải đắn đo hơn cả KFC trong suốt 15 năm? Tại sao đến tận bây giờ, McDonald's mới có kế hoạch xâm nhập vào thị trường tiềm năng có đến 90 triệu dân? Liệu McDonald's có thể thất bại bởi sự chậm trễ hay không?

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Hiện nay, mặc dù thị trường thức ăn nhanh của Việt Nam không còn mới mẻ, nhưng tiềm năng còn rất lớn. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, nhu cầu tiêu dùng ngày càng nâng cao, chất lượng cuộc sống cũng dần ổn định luôn đảm bảo cho miếng bánh fastfood không ngừng phình to. 

Với mức GDP bình quân đầu người hiện tại vào khoảng 1500 USD/năm, còn tại các thành phố lớn, con số này cao hơn nhiều. Năm 2012, Hà Nội vào khoảng 2.200 USD/người còn TP. Hồ Chí Minh là 3.600 USD/người.
Mức thu nhập này đủ để người tiêu dùng sẵn sàng bỏ từ từ 4 – 6 USD cho một bữa ăn tại McDonald's mà không phải suy nghĩ quá nhiều. Điều duy nhất phải lo lắng chính là liệu chất lượng có thuyết phục được người tiêu dùng hay không.

Tuy nhiên, khi McDonald's đã trở thành thứ văn hóa ẩm thực ở 200 quốc gia trên toàn thế giới, thuyết phục khẩu vị đang luôn tìm kiếm cái mới của người Việt có lẽ không phải là bài toán quá khó đối với gã khổng lồ này. Có lẽ, việc đến sớm hay muộn chỉ là vấn đề ở chiến lược kinh doanh của họ mà thôi.

McDonald's nổi tiếng không chỉ bởi thực đơn những món bánh kẹp và khoai tây chiên ngon tuyệt mà còn bởi điều kiện để nhượng quyền thương hiệu của họ không hề dễ dàng: Đối tác phải là hãng có tiềm lực tài chính lớn, kinh nghiệm kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, khả năng quản lý tốt. Những điều kiện trên phải đạt chất lượng cao và phải được đảm bảo gần như tuyệt đối.

Vì thế, không quá khó hiểu khi McDonald's phải mất đến gần 1 năm mới tìm được nhà đầu tư tốt để gửi gắm thương hiệu của mình. Cái tên đó chính là Henry Nguyễn, một doanh nhân không hề xa lạ đối với thị trường đầu tư tài chính ở Việt Nam.

Đối thủ "khai hoang", McDonald gặt hái


Cái cớ đến chậm của ông lớn chính bởi cái gọi là “văn hóa fastfood”. KFC đã phải mò mẫm mất 7 năm trời, chấp nhận thua lỗ để tạo ra được thói quen ăn uống "kiểu Tây" ở Việt Nam.
Với văn hóa ẩm thực từ hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn năm ở đất nước nông nghiệp, sẽ phải mất không ít thời gian để quen với việc ăn món chính chủ yếu là thịt đi kèm với nước uống có ga và nhiều đường.
Coke, khoai tây chiên và món bánh kẹp thịt là những món ăn đã tạo ra McDonald
Chính các đối thủ hiện nay đã giúp cho McDonald's không cần phải làm quen từ đầu với một thị trường quá mới mẻ như Việt Nam. Cộng với sức mạnh thương hiệu “hãng fastfood lớn nhất thế giới”, McDonald's sẽ nhanh chóng thu hút được một lượng lớn khách hàng tò mò, từ đó, tạo ra một thị phần lớn những người sẵn sàng trung thành với những thanh khoai tây hay những miếng bánh kẹp thịt xay thú vị. 

Lợi thế “số 1 thế giới” đủ lớn để McDonald's tự tin đi sau nhưng vẫn có nhiều khả năng chiến thắng.

Không hề dễ ăn

Không có sự thành công nào mà không có khó khăn, “số 1 thế giới” cũng không ngoại lệ. McDonald's đang thất thế ở châu Á.

Nếu như ở Mỹ, McDonald's đang phục hồi theo đà chung của nền kinh tế ở mức 2,4% trong 6 tháng đầu năm, nhiều hơn dự báo của giới phân tích với 2,1% thì ở khu vực Châu Á/Thái Bình Dương, Trung Đông và Châu Phi rất đáng thất vọng. Doanh số bán hàng chỉ tăng 0,9%, thấp hơn mức dự đoán 1,5% và gần như đứng im.

Những con số ở châu Á đối với McDonald's là quan trọng, bởi đây là thị trường mà họ đang tập trung phát triển mới. Nhiều cửa hàng đã phải đóng cửa và McDonald's đang cố đổ lỗi cho tình hình dịch cúm gia cầm ở Trung Quốc.

Tình hình không khả quan sẽ buộc McDonald's phải thận trọng hơn nhiều trong việc lập các chuỗi nhượng quyền thương hiệu mới, vì thế, người tiêu dùng Việt Nam sẽ khó thấy được sự hoành tráng đáng có của cái gọi là “số 1 thế giới”.

Thêm vào đó, để nhanh chóng có được lượng khách hàng lớn và trung thành, McDonald's sẽ phải tìm kiếm được một địa điểm đặt cửa hàng thuận lợi nhất. Điều này không hề dễ dàng, bởi tại Việt Nam, hầu hết những vị trí vàng đều đã có chủ, trong đó không ít là đối thủ là "đồng hương" của họ.
Tương tự như hiện tượng Starbucks đến Việt Nam, một vị trí đẹp, một tấm biển quảng cáo mời gọi hấp dẫn sẽ là thứ đầu tiên mà người tiêu dùng nghĩ đến: “McDonald's sẽ nằm ở đâu?”.